Top page

Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh nghiệm học tập. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh nghiệm học tập. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2012

"Tự học" phương pháp học tiếng anh hiệu quả nhất

A. Cái nhìn từ thực tế và kinh nghiệm…

 Dù bạn học Đông học Tây, học chỗ này chỗ khác, nhưng trước khi nói về mọi thứ, tôi thành thật khuyên bạn: “Hãy giành những khoảng thời gian cho riêng mình”.

 Bạn bận bịu ư ? Bạn thiếu thời gian ư ? Bạn phải chạy hết “lò” này đến “lò” kia ? Hay bạn phải dự những lớp học phụ đạo? Chúng ta có thể ngồi nghĩ ra hàng đống lí do để giải thích cho sự tồn tại của dăm ba con nhền nhện ngay trong cái góc học tập nhỏ xinh nằm đối diện với chiếc giường ngủ hàng ngày. Rất nhiều học sinh thời nay không có thời gian để học, chỉ vì họ quá bận học. Nghe thật khôi hài phải không ? Tuy nhiên, đáng buồn thay, đó lại là sự thật. Bởi vì đối với họ không tồn tại khái niệm tự học.

 Chúng ta đưa quá nhiều thứ vào trong bộ não từ các bài giảng trên lớp cũng như tại lớp học thêm. Chúng ta nghĩ rằng đổ đầy dầu thô vào bình xăng là có thể chạy được xe gắn máy. Chúng ta tưởng cứ tống đẫy hồ vào bụng là sẽ làm nên một thân thể khỏe mạnh, cường tráng. Thực tế không phải như vậy. Con chữ cái nghĩa bạn học trên lớp mới chỉ ở dạng “chưa tinh chế”, tức là dù đã được giáo viên biên soạn kĩ lưỡng, nó vẫn cần phải “xào” lại để thực sự trở thành của bạn. Đáng tiếc thay, hàng ngày, chúng ta đang cố “ăn sống nuốt tươi” tri thức bằng cách nạp nó vào thật nhiều. Và ở đây, cái qui luật bất biến của hệ tiêu hóa vẫn khẳng định được tính đúng đắn của nó - cái gì càng sống sượng thì càng dễ bị đào thải.

 Sự thực là, có rất nhiều cô cậu tân sinh viên bị choáng váng thật sự khi bắt đầu bước chân vào giảng đường Đại học, nơi mà hai chữ “tự học” được đặt ở vị trí rất cao. Mặc dù ở Việt Nam thì cao lắm cũng chỉ bằng nửa cái chân ghế đẩu là cùng, nhưng đối với họ, đó đã tưởng như một cú sốc ghê gớm lắm. Môi trường mới, phương pháp dạy mới, chỉ có cách học thì “em vẫn cứ ngoan như ngày nào”. Vâng, sáng sớm bảnh mắt ra đã hùng hục ghi ghi chép chép, rồi thầy cho gì thì nhặt lấy, hệt như mấy chú Tiểu Ngộ Không trong rạp xiếc, hay dăm ông thực khách sang trọng chỉ biết ăn nhà hàng. Cái thói quen cố hữu ấy từ muôn thủa đã ăn sâu vào trong tiềm thức của các cô cậu cử nhà ta rồi. “Học phải ghi, thi phải thuộc” – ngày nào lên lớp không viết độ dăm ba mặt giấy phê đúp thì ngày ấy như chưa học gì. Ôi, cái quan niệm mới đáng buồn làm sao! Tôi đã từng biết có người ngày nào cũng lên lớp, vở văn học rặt chỉ toàn chữ là chữ, từ đầu đến cuối không sót một bài nào, nhìn phát ngốn. Nhưng hỏi tới thì viết một đoạn văn cũng không nên hồn, câu cú lủng cà lủng củng, ý tưởng thì lộn xộn, rồi trích dẫn sai lung tung. Cả các sinh viên của chúng ta nữa. Ngày ngày cắm đầu cắm cổ nhịn đói lên giảng đường cốt sao cho thật sớm, đặt mục tiêu phải viết hết đống mực Tàu trong cái quản bút to đùng, rồi đến khi động vào kiến thức thì vẫn cứ lơ ma lơ mơ, láng máng, léng phéng, lùng phùng, cái gì cũng “như quen mà như lạ”, thật đáng thất vọng thay!

 Có một đặc điểm chung đối với tất cả những học sinh, sinh viên kể trên là: Họ giành quá ít thời gian để tự học. Và điều này đã ảnh hưởng lớn đến họ. Ra ngoài đời, họ thường loay hoay, bỡ ngỡ, phản ứng chậm trước những thay đổi và biến động của cuộc sống. Trong công việc, họ hay gặp nhiều khó khăn, lo nghĩ, thiếu tính tự xoay sở, và hành động không độc lập, quyết đoán, đôi khi dựa dẫm nhiều vào người khác. Bởi vì khi học để làm người, họ đã bỏ qua cái cơ hội để được rèn luyện tính chủ động, độc lập. Và họ đã mất rất nhiều, dù công sức học tập bỏ ra không phải là nhỏ.

 Bản thân tôi là một kẻ hầu như không đi học thêm trong suốt quãng thời gian là học sinh phổ thông. Chỉ khi lên đại học, do vốn tiếng Anh quá đuội và sau khi tự học thất bại, tôi mới tìm đến một trung tâm tiếng Anh để luyện tập. Phần lớn thời gian học ngoài giờ trên lớp tôi đều dành để tự trau dồi. Và tôi thấy được vai trò vô cùng quan trọng của việc tự học. Nó đã giúp ích cho tôi, và tạo cho tôi nhiều đức tính tốt trong tư duy, suy nghĩ. Và chính cái thói quen ấy đã ít nhất vài lần giúp tôi trong học tập. Hồi cuối năm lớp 12, với vốn kiến thức rỗng như cái rá thủng, tôi phải bắt tay vào tự học môn Lý (toàn bộ chương trình 12), và Hóa (bắt từ lớp 10). Ở thời điểm đó, một chữ bẻ đôi tôi cũng chịu. Không thầy (vì lúc đó chẳng ai có hơi đâu mà dạy một thằng mù chữ), không bạn (vì lúc đó chẳng ai có hơi đâu mà học cùng một thằng mù chữ), tôi phải tự đào tạo mình. Thời gian từ lúc bắt đầu học đến lúc thi chưa đầy 3 tháng. Một mình tự thiết kế lịch học, tự lập kế hoạch, tự đặt chương trình, tự nhồi nhét, tự đọc hiểu, tự lăn lộn, tự dày vò, bằng tất cả kinh nghiệm vốn có, trong suốt gần 90 ngày, cuối cùng trước khi thi tôi cũng đã thở phào nhẹ nhõm. Và kết quả tôi giành được không phải là quá tệ. Qua đó, tôi đã rút được bài học cho bản thân, và cũng là một niềm tin rất lớn: “Nếu biết cách tự học, tôi có thể học được

B. Tự học sẽ đem lại những gì?

 Vâng, tự học mang lại cho bạn rất nhiều thứ:
 - Một tinh thần chủ động trong học tập và rộng hơn là trong cuộc sống
 - Khả năng xoay sở, giải quyết vấn đề
 - Khả năng nhìn nhận vấn đề
 - Năng lực truyền thông, phương pháp luận cho bản thân
 - Khả năng tư duy sáng tạo
 - Tính tự giác cao
 - Niềm hứng thú, say mê
 - Khả năng lường trước các tình huống
 - Sự tự tin
 - Vốn kiến thức rộng
 - Khả năng hiểu biết chuyên sâu về một lĩnh vực
 - Tính năng động
 - Những thử thách, đấu tranh với bản thân

 Và còn rất nhiều điều khác nữa mà ở cái thời điểm ngồi trên chiếc ghế tựa cứng như sừng trâu và đồng hồ điểm 12 giờ 14 phút 58 giây này tôi chưa liệt kê ra được…

C. Bạn có nhận thức thế nào về tự học?


 Bạn có suy nghĩ của riêng bạn, và tôi cũng vậy. Tuy nhiên, mời bạn đọc thử cách nhìn nhận của tôi, một kẻ vốn lười đến lớp vì quản ngại nắng mưa nên đành phải ngồi nhà gặm nhấm đống sách vở một mình.

 Tự học được chia làm hai mức độ khác nhau. Ở mức độ thứ nhất – tôi gọi là tự ôn luyện. Hàng ngày bạn đến lớp nghe giảng, ghi chép, sau đó về nhà làm những bài tập cho sẵn, xem lại sách, thực hiện những công việc mà giáo viên giao cho bạn. Đôi khi, giải quyết hết đống bài vở ấy cũng chiếm của bạn cả ngày trời rồi. Điều đó rất tốt, bởi bạn đã dành thời gian để tiêu hóa đống kiến thức ngồn ngộn mà ở cái tuổi của bạn không đáng phải tiếp thu nhiều đến như vậy. Tuy nhiên, vẫn chưa đủ đâu bạn ạ. Đôi lúc, bạn gặp một học sinh hay một sinh viên kì tài. Dường như điều gì họ cũng biết, cũng giỏi. Bạn ngạc nhiên vì kiến thức vượt trội của họ. Làm sao họ có thể tài thế nhỉ? Mình bò ra học cả ngày mà xem ra vẫn kém họ, cả về mặt hiểu biết lẫn kĩ năng. Thực ra họ cũng có 24 giờ một ngày như bạn thôi, vấn đề là họ chủ động trong học tập, và do đó, họ có cả niềm hứng thú lẫn hiệu suất. Đây mới là mức thứ hai, mức quan trọng nhất, nó quyết định rất nhiều đến cái mà tiếng Anh người ta gọi là “kờ - nao – lít” (knowledge – tri thức) của bạn, tôi tạm gọi là tự rèn luyện, hay chính xác hơn là tự học.

 Nên nhớ rằng, ở mức trước, dù đã giành cho mình một “khoảng không” riêng, bạn vẫn là người “bị động”. Nghĩa là nền tảng của bạn vẫn do người khác trang bị, bạn chỉ có nghĩa vụ củng cố hay thẩm thấu nó thôi. Bạn vẫn chưa “ra quyết định” cho vốn kiến thức của mình. Và vì thế, dù bạn có làm hết các bài tập, có thuộc làu nội dung bài giảng đi nữa, bạn vẫn chưa thể đạt đến “sự đột phá cho riêng mình”, và bạn chắc chắn sẽ vẫn phải ngạc nhiên vì vốn hiểu biết của người khác. 
Hãy thử quan sát, để có một bài học trọn vẹn ghi vào sổ đầu bài hàng tuần, các nhà sư phạm và người học của chúng ta sẽ phải làm gì:

 - Hội đồng Quốc gia biên soạn giáo trình (hay SGK gì gì đó) cho các bạn
 - Giáo viên đọc giáo trình, paste vào một quyển vở (thuật ngữ sư phạm gọi là soạn giáo án) hay copy vào CPU của mình, tóm tắt lại thành các gạch đầu dòng (thuật ngữ sư phạm gọi là dạy học bằng phương pháp PowerPoint)
 - Giáo viên có thể đọc thêm tài liệu, bổ sung kiến thức cho bạn
 - Giáo viên cố gắng diễn đạt ý tưởng của các nhà khoa học vĩ đại trong vòng 45 phút giữa tiếng ồn của máy khoan cắt bê tông và tiếng ngáp ngắn ngáp dài của một buổi bình minh muộn…
 - Học sinh có thể ghi chép hoặc không, nhưng phải làm sao đó để nhập tâm, phục vụ cho bài kiểm tra…
 - Những học sinh chăm chỉ giành thời gian xem lại bài giảng, đọc, học thuộc, làm bài tập, ghi nhớ,…
 - Và giáo viên kiểm tra bài cũ dưới những con mắt lo lắng của gần năm chục cô cậu học trò. Lác đác vài cánh tay xung phong lên bảng giữa nhịp đập hối hả của những con tim sợ phải lên bảng trả bài…


 Cái hệ thống phân quyền từ trung ương đến địa phương này có tác dụng phổ cập hơn là dành riêng cho bạn. Đó là mô hình chung của các trường phổ thông Việt Nam ngày nay. Nó cần phải thay đổi. Tuy nhiên, đó là công việc của các nhà điều hành, làm luật, tổ chức, những người có nhiều học hàm, học vị, và phải một thời gian nữa mới có sự biến chuyển được. Còn bây giờ, các bạn “sinh ra phải thời loạn lạc, trưởng thành gặp buổi gian nan”, dù có khó nhọc thì cũng phải xào nấu riêng cho mình một cách nào đó để mà học cho tốt. Và vì thế, hãy tiếp nhận kiến thức một cách chủ động. Muốn học, muốn hiểu sâu một vấn đề nào, tốt nhất hãy tự chạm tới nó trước, tự gieo mầm, tự gợi mở, tự tìm tòi, trước khi có ai đó nói cho bạn. Lần đầu tiên, thứ hai, thứ ba, chắc chắn sẽ rất khó khăn, nhưng đừng có nản. Nên nhớ bạn đang làm đầy đủ công việc của cả một mô hình giáo dục thu nhỏ, từ khâu thiết kế thượng tầng trung ương đến triển khai ở cấp cơ sở, và vì thế, thử thách là điều không thể tránh khỏi. Ở Mỹ, sinh viên phải đọc trước hàng trăm trang sách, thậm chí đi nghiên cứu, thu thập thông tin hàng tuần lễ để chuẩn bị cho một bài giảng. Đến lớp, họ không nghe giáo viên nhắc lại kiến thức đâu, mà đó là tranh luận, cái thuật ngữ mà dân du học nhà ta vẫn gọi nôm na là đì -bết (debate) hay “hội đồng nhà mõ”. Và hiểu biết cứ thế nảy sinh, dưới nhiều góc độ khác nhau.

 Tất nhiên, dù bạn có thế nào đi nữa, chúng ta vẫn rất cần những người thầy. Khi người học đã tự tiếp nhận kiến thức thì vai trò của người thầy (hướng dẫn, tác động…) là không thể thiếu. Nó có tác dụng định hướng rất tốt cho sự phát triển, cũng giống như bánh lái để điều chỉnh phương hướng của con tàu, còn động cơ thúc đẩy sự chuyển động. Nếu bánh lái cũng kiêm cả phần của động cơ (như dân ta ngày nay quá ỷ lại vào người thầy), con tàu sẽ ì ạch, khó mà linh hoạt được. Bản chất của tự học là tự làm việc với chính mình trước, nghiên cứu tài liệu, trao đổi với bạn bè dưới sự hướng dẫn của người thầy. Tất nhiên, ở môi trường như của VN, cái mệnh đề trên có thể khuyết đi một vài vế (vì căn bệnh chạy đua thành tích, vì tính ỷ lại, hay vì người thầy quá tận tâm mà làm luôn việc hộ trò). 

Mời các bạn tham khảo cái sơ đồ rất hay dưới đây từ một hội thảo giáo dục của Liên Hợp Quốc mà tôi sưu tầm trên mạng (từ diễn đàn Chúng ta):

 -Học mà chỉ nghe giảng, nhớ 5% những gì đã nghe
 -Đọc (reading) 10%
 -Nghe nhìn (Adio Visual) 20%
 -Làm thí nghiệm trước mắt 30%
 -Thảo luận nhóm (Disscussion group) 50%
 -Làm bài ở nhà, ghi, viết lại (Practice by doing) 75%
 -Dạy người khác (Teach other/immediate use of learning) 90%


 Bạn thấy đấy, từ 50% trở lên toàn là công việc của bạn. Đừng trách tại sao suốt ngày lê la trên giảng đường mà chữ nghĩa cứ rụng sạch. Nếu bạn là thiên tài mà nhớ được hết ngay những gì trên lớp thì quá tốt rồi. Nhưng mà xác suất để bạn là thiên tài nhỏ lắm bạn ơi, và vì thế, hãy nhìn vào thống kê với số đông ở trên. Khi tự học trước ở nhà, bạn đã được nghiên cứu hai lần một bài giảng rồi đấy. Lần đầu là chính bạn, tự mày mò, tự vỡ vạc. Lần sau là quan điểm chính thống của giáo viên, bạn có thể đối chiếu, so sánh, ghi nhớ. Và dù lần đầu có sai lầm đi nữa, chắc chắn bạn cũng đã học hỏi được rất nhiều.

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012

Chỉ học 2 giờ mỗi ngày, vẫn trở thành thủ khoa đại học

Cho dù tiền lương dành cho nghề giáo còn thấp, chế độ cho giáo viên còn nhiều hạn hữu, sinh viên sư phạm ra trường rất khó khăn mới kiếm được việc làm, thậm chí phải “chạy” hàng trăm triệu mới có được một chỗ dạy ở tỉnh lẻ, nhưng Nguyễn Trần Văn Quyện - Thủ khoa ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM vẫn tin sự lựa chọn của mình là đúng đắn.

Nguyễn Trần Văn Quyện

Thủ khoa đề cao phương pháp tự học

Với 26,75 điểm (Toán 8,75, Vật lý 9, Hóa học 9), Nguyễn Trần Văn Quyện đạt danh hiệu Thủ khoa Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2010-2011.

Trong 12 năm học liên tiếp Quyện đạt danh hiệu HSG toàn diện, cấp II đạt giải 3 cấp tỉnh môn toán trên máy tính bỏ túi, giải khuyến khích cấp tỉnh môn vật lý lớp 12. Bí quyết thành công của Nguyễn Trần Văn Quyện là tự học. Tưởng như đơn giản nhưng đây lại là quá trình nghiên cứu sâu, biến đổi kiến thức của nhân loại thành kiến thức của riêng mình. Quan trọng tự học giúp Quyện giảm bớt chi phí cho bố mẹ vừa rèn luyện tính tự giác cao.

Mỗi ngày Quyện chỉ dành khoảng 2 tiếng để học bài. Theo em, không quan trọng thời gian học nhiều hay ít mà quan trọng là chất lượng học được đánh giá bằng kiến thức thu được. Trong quá trình học, Quyện luôn tập trung cao độ nhưng vẫn giữ sự thoải mái nhất định bằng những hoạt động giải trí nhẹ như xem tivi, đọc sách.


Trăn trở với ngành sư phạm

 Có một thực tế rằng, trong các kỳ thi tuyển sinh vào ngành sư phạm thì thực trạng còn nặng nề hơn cả câu nói "chuột chạy cùng sào", nghĩa là đã phải tuyển nhóm "cùng sào" rồi mà cũng không đủ chỉ tiêu. Điều này cho thấy giới trẻ không mấy thiết tha với ngành sư phạm. Nhắc đến câu nói này, Quyện rất buồn, bởi ngày càng ít học sinh giỏi thi vào ngành sư phạm. Ngành sư phạm cần đội ngũ giáo viên giỏi mới tạo nên một nền giáo dục chất lượng. Quyện mong rằng điều này sớm được khắc phục để có những giải pháp thiết thực, sao cho câu nói “chuột chạy cùng sào” không được nhắc lại nữa. Thế nhưng cậu học trò học giỏi Nguyễn Trần Văn Quyện lại lựa chọn ngành sư phạm như một đam mê. Quyện cho biết, đây là nguyện vọng của bố mẹ và mong ước của bản thân. 

Hiện tại, tiền lương dành cho nghề giáo còn thấp, chế độ cho giáo viên nhiều hạn hữu. Sinh viên sư phạm ra trường rất khó khăn mới kiếm được việc làm, thậm chí phải “chạy” hàng trăm triệu mới có được một chỗ dạy ở tỉnh lẻ thì Quyện vẫn tin sự lựa chọn của mình là đúng đắn. Học tập dưới mái trường đại học, Quyện vẫn đang từng ngày thực hiện những mong ước của mình bằng kết quả học tập cao.

 Đối với Nguyễn Trần Văn Quyện, nghề giáo viên hiện nay vẫn rất được tôn trọng, đề cao. Chỉ có điều hiện nay nhà nước và xã hội chưa đánh giá đúng về ý nghĩa và công sức bỏ ra của người giáo viên để định giá công sức đấy một cách phù hợp.

Hiện tại, rất nhiều đồng nghiệp trong tương lai của Quyện là những cử nhân sư phạm ra trường không xin được việc, phải làm đủ nghề như dạy gia sư, làm nhân viên bảo hiểm, nhân viên bán hàng. Nguyễn Trần Văn Quyện tâm sự: "Quả thật em cũng hơi lo lắng, với việc lương bổng thấp thì khó trang trải cuộc sống sau này cho bản thân và gia đình, cuộc sống khó khăn thì khó có thể đóng góp hết sức cho sự nghiệp dạy được".

Nhiều người nghĩ rằng giáo viên là một nghề nhàn nhã, bởi thế thu nhập không cao nhưng Quyện lại không nghĩ như vậy. Đối với Quyện, công việc của người giáo viên không hề nhàn hạ. Lao động giáo dục là lao động vô cùng nặng nhọc và vất vả, nỗi vất vả ấy được tạo nên từ nhiều yếu tố như áp lực công việc, đồng lương chưa thỏa đáng. Sự hoạt động của người giáo viên không chỉ ở trường mà còn ở nhà, ở mọi lúc mọi nơi. Người giáo viên luôn phải boăn khoăn trăn trở tìm cách, tìm biện pháp cho học sinh hiểu bài, cách nâng cao nhận thức học sinh và thúc đẩy những em yếu kém. Đơn giản hơn nữa là người là các ngành khác có ngày nghỉ lễ còn sư phạm thì rất hiếm hoi. Nếu các ngày nghỉ lễ đó rơi vào ngày thường thì giáo viên vẫn được nghỉ nhưng sau đó lại phải sắp xếp thời gian dạy bù.

Quyện tâm sự: “Thầy giáo chủ nhiệm năm học cấp 3 là thầy Huỳnh Ngọc Thoại là người có ý nghĩa nhất với em, thầy là người định hướng cho tất cả cho em về con đường học tập”. Vì vậy, sau này khi lớn lên Quyện mong muốn trở thành một người thầy có đầy đủ kiến thức và kỹ năng, có thể truyền đạt những điều mà Quyện hiểu được, nhận thức được cho học sinh hiểu rõ vấn đề, hình thành nhân cách, nghiệp vụ và kỹ năng sống một cách hoàn thiện. Như vậy, đối với Quyện, nhà giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức mà họ có nhiệm vụ khơi dậy những ngọn lửa đam mê học tập trong mỗi học sinh. Ngoài kiến thức, người thầy cần trau dồi đạo đức, lối sống bởi nhân cách của người thầy luôn có tác động mạnh mẽ đến học sinh hơn những bài học đạo đức, lý thuyết hay kỹ năng mềm.

 Quyện có mong ước là được làm thầy giáo theo đúng nghĩa, có một công việc ổn định, chăm lo cho gia đình và đóng góp cho xã hội.

Nguồn Giaoduc.net.vn

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

Internet là một người thầy dạy học vô giá


Tôi đã tìm thấy được ở Internet một phương pháp học rất hiệu quả, một người thầy dạy tuyệt vời cho tôi trong mọi lĩnh vực.

 Internet hiện nay là một một công cụ phổ biến rộng rãi nhất trong cuộc sống hàng ngày của tất cả mọi người. Nó không chỉ giúp chúng ta tìm hiểu thông tin, gửi email, nói chuyện với bạn bè mà nó còn giúp chúng ta biết được mọi kiến thức trong cuộc sống. Riêng đối với tôi, Internet giống như là một người thầy dạy học vô giá của mình vậy.

 Có nhiều người sẽ nghĩ rằng tôi đúng là “đồ khùng” vì chẳng có ai lại đi so sánh Internet như người thầy giáo dạy học. Đối với họ, Internet cũng chỉ là một công cụ tìm kiếm, một kênh kết nối giữa mọi người lại với nhau. Còn với tôi, nó là một người thầy giáo tuyệt vời hơn tất cả những người thầy mà tôi đã từng gặp.

 Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, lại đi học ở một thành phố lớn nên cuộc sống của tôi khổ cực nhiều bề. Sống ở thành phố có nhiều khoản phải chi tiêu, từ chuyện ăn uống đến học hành, ngoại khóa... Tôi dè dặt, tiết kiệm chi tiêu tới mức tối thiểu nhưng vẫn không đủ tiền để trang trải mọi sinh hoạt hằng ngày.

 Xã hội ngày càng phát triển và đòi hỏi con người cần trình độ cao nên ngoài đi học những kiến thức chuyên môn, sinh viên như tôi giờ phải đi học đủ thứ: Ngoại ngữ, vi tính, kỹ năng mềm, kiến thức phụ bên ngoài. Tôi đi học bằng những khoản tiền chắt chiu của bố mẹ ở quê gửi vào, một tháng vài trăm ngàn đồng không đủ sống chứ đừng nói đến chuyện đi học cái này, cái kia. Tôi phải tìm đến một công cụ khác đó chính là Internet - người thầy vô giá của tôi.

 Chỉ cần có Internet tôi có thể học được đủ thứ trên đời mà không cần phải đi học những khóa học tốn hàng triệu đồng.

 Một sinh viên nhà quê lên Sài Gòn học chẳng biết gì về ngoại ngữ, trong khi những bạn khác ở thành phố nói tiếng Anh lưu loát như người nước ngoài. Tôi không biết ngoại ngữ, lại không có tiền để đi học những khóa học đó ở các trung tâm. Đi đâu tôi cũng thấy mặc cảm, tự ti với mọi người, lo lắng không biết phải làm gì khi mình ra trường đi làm không biết ngoại ngữ. Tôi tìm kiếm những phương pháp học truyền thống như tự học, đọc sách nhưng mọi cách đều vô nghĩa. Đọc sách thì không biết người ta đang viết gì, tự học phát âm thì không được vì mình không biết phải phát âm như thế nào cho đúng. Tôi bất lực.

 Sau đó tôi tìm đến phương pháp học trên Internet, chỉ cần cái máy tính kết nối Internet, tôi có thể tìm được vô vàn những những trang web học ngoại ngữ miễn phí, trao đổi, nói chuyện với bạn bè về những bài học để nâng cao kiến thức, trình độ ngoại ngữ của mình. Những từ gì không hiểu thì nhờ Internet dịch dùm, phát âm không chuẩn thì lên đó tìm những cách phát âm rồi đọc theo cách người ta hướng dẫn. Chỉ một thời gian sau đó, kiến thức ngoại ngữ của tôi khá hơn rất nhiều. Tôi có thể phát âm chuẩn hơn, hỏi và trả lời được những câu đơn giản, hay tự viết những bài hội thoại ngắn, đúng cấu trúc. Giờ đây, tôi không còn phải lo lắng gì đến việc không có tiền đi học một khóa ngoại ngữ tốn hàng triệu đồng nữa.

 Tôi đã tìm thấy được ở Internet một phương pháp học rất hiệu quả, một người thầy dạy tuyệt vời cho tôi trong mọi lĩnh vực. Không chỉ có ngoại ngữ, thầy Internet còn dạy tôi rất nhiều bài học về kỹ năng sống, những cách giao tiếp hàng ngày, cho tôi biết được bản thân mình đang còn thiếu sót rất nhiều thứ mà mình chưa biết được.

 Một người thầy giáo vô hình lặng lẽ đi bên cạnh cuộc đời tôi, truyền dạy cho tôi tất cả mọi thứ trong cuộc sống hàng ngày. Học với "thầy" tôi không phải lo bị "thầy" quát mắng, chê bai mà tôi có thể học đi học lại hàng trăm lần mà không sợ bị đánh. "Thầy" còn kiên trì chỉ dạy cho tôi những kiến thức phụ, những kỹ năng để tồn tại trong xã hội. "Thầy" miệt mài giảng dạy đến lúc nào tôi hiểu thì mới thôi.

 Nhờ Internet, tôi đã biết được rất nhiều kiến thức trong một biển kiến thức bao la, rộng lớn. Tôi biết được những kỹ năng đối xử với mọi người, vận dụng những kỹ năng vào để làm việc tốt hơn. Tôi không còn rụt rè, lo ngại như trước nữa mà thay vào đó là tự tin hơn rất nhiều. Tôi không còn bị run, tự ti trước mặt những người khác mà tôi có thể đứng dậy, đầu ngẩng cao và từng bước chinh phục những thành công trong cuộc sống. Tôi có thể làm được bất cứ chuyện gì nếu "thầy" Internet luôn dõi theo và giúp đỡ tôi trong từng bước đi của cuộc sống.

Hoàng Thị Mai

Thứ Hai, 15 tháng 10, 2012

Học tập theo phương pháp P.O.W.E.R


Từ “Power” ở đây vừa có nghĩa là sức mạnh, năng lực, vừa là tên gọi của một phương pháp học tập ở bậc đại học do GS Robert Feldman (ĐH Massachusetts) đề xướng nhằm hướng dẫn SV, đặc biệt là SV năm 1, cách học tập có hiệu quả nhất. Phương pháp POWER bao gồm 5 yếu tố cơ bản là chữ viết tắt ghép thành POWER: Prepare, Organize, Work, Evaluate, Rethink

1. Prepare (chuẩn bị sửa soạn)

Quá trình học tập ở đại học không phải chỉ bắt đầu ở giảng đường khi SV nghe thầy giáo giảng bài hoặc trao đổi, tranh luận với các bạn đồng học. Quá trình này chỉ thật sự bắt đầu khi SV chuẩn bị một cách tích cực các điều kiện cần thiết để tiếp cận môn học như: đọc trước giáo trình, tìm tài liệu có liên quan.

Sự chuẩn bị tư liệu này càng trở nên hiệu quả hơn khi đi liền với nó là một sự chuẩn bị về mặt tâm thế để có thể tiếp cận kiến thức một cách chủ động và sáng tạo. Với sự chuẩn bị tâm thế này, SV có thể chủ động tự đặt trước cho mình một số câu hỏi liên quan đến nội dung sẽ được đặt trên lớp, thậm chí có thể tự tạo cho mình một cái “khung tri thức” để trên cơ sở đó có thể tiếp nhận bài học một cách có hệ thống.

Với cách chuẩn bị tích cực này, tri thức mà SV có được không phải là một tri thức được truyền đạt một chiều từ phía người dạy mà còn do chính SV tự tạo ra bằng cách chuẩn bị các điều kiện thực thể và tâm thể thuận lợi cho sự tiếp nhận tri thức.
Nói “học là quá trình hợp tác giữa người dạy và người học” có nghĩa là như vậy.

2. Organize (tổ chức)

Sự chuẩn bị nói trên sẽ được nâng cao hơn nữa khi SV bước vào giai đoạn thứ hai, giai đoạn người SV biết tự tổ chức, sắp xếp quá trình học tập của mình một cách có mục đích và hệ thống.

3. Work (làm việc)

Một trong những sai lầm của việc học tập cũ là tách rời việc học tập ra khỏi làm việc. Trong khi làm việc chính là một quá trình học tập có hiệu quả nhất.

Trong giai đoạn này SV phải biết cách làm việc một cách có ý thức và có phương pháp ở trong lớp và trong phòng thí nghiệm, thực hành.

Các hình thức làm việc trong môi trường đại học rất đa dạng, phong phú: Lắng nghe và ghi chép bài giảng, thuyết trình hoặcthảo luận, truy cập thông tin, xử lí các dữ liệu, bài tập, thực tập các thí nghiệm… tất cả đều đòi hỏi phải làm việc thật nghiêm túc, có hiệu quả.

4. Evaluate (đánh giá)

Ngoài hệ thống đánh giá của nhà trường, SV còn phải biết tự đánh giá chính bản thân mình cũng như sản phẩm do mình tạo ra trong quá trình học tập.

Chỉ có qua đánh giá một cách trung thực,SV mới biết mình đang đứng ở vị trí, thứ bậc nào và cần phải làm thế nào để có thể cải thiện vị trí, thứ bậc đó. Tự đánh giá cũng là một hình thức phản tỉnh để qua đó nâng cao trình độ và ý thức học tập.

5. Rethink (suy nghĩ lại – luôn biết cách lật ngược vấn đề theo một cách khác)

Khả năng suy nghĩ lại này giúp SV luôn biết cách cải thiện điều kiện, phương pháp và kết quả học tập của mình. Về bản chất, tư duy đại học không phải là một thứ tư duy đơn tuyển, một chiều mà đó chính là hình thức tư duy đa tuyển, phức hợp đòi hỏi người học, người dạy, người nghiên cứu phải có tính sáng tạo cao, luôn biết cách lật ngược vấn đề theo một cách khác, soi sáng vấn đề từ những khía cạnh chưa ai đề cập đến.

Khả năng suy nghĩ lại này cũng gắn liền với khả năng làm lại (redo) và tái tạo quá trình học tập trên can bản nhận thức mới đối với vấn đề và kết quả đã đặt ra.

Cuối cùng, chữ R của giai đoạn thứ năm này cũng có nghĩa là Recreate (giải lao, giải trí, tiêu khiển), một hoạt động cũng quan trọng không kém so với các hoạt động học tập chính khóa.

Ở đây cần nhớ rằng: Ai không biết cách nghỉ ngơi, giải trí, tiêu khiển thì người đó cũng không biết cách học tập hoặc học tập không có kết quả cao.

POWER: Prepare , Organize, Work, Evaluate, Rethink

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2012

Vài kinh nghiệm học và thi môn hóa học

- Hóa học ở chương trình THPT có hai phần chính: hóa vô cơ và hóa hữu cơ. Cái khó khi học môn hóa nằm ở chỗ: lớp 11 học một nửa hữu cơ, một nửa vô cơ và lớp 12 học phần còn lại. Do đó khi thầy cô dạy các em chương trình hóa lớp 12, các em phải xem lại phần liên quan ở lớp 11.

Ví dụ: bài rượu ở lớp 12 liên quan đến bài anken ở lớp 11; bài phenol, anilin ở lớp 12 liên quan đến bài benzen ở lớp 11; bài hợp chất chứa natri (NaOH, Na2CO3...) ở lớp 12 liên quan đến bài phản ứng trao đổi ion ở lớp 11...

- Dù hóa vô cơ hay hóa hữu cơ, phần cốt lõi của môn hóa học nằm trong hóa tính và điều chế các chất. Sau khi nắm vững các phần này, việc kế tiếp là các em phải hệ thống lại các bài học thì mới có thể vận dụng chúng dễ dàng (giai đoạn này nếu các em không làm được thì yêu cầu sự giúp đỡ của thầy cô).

Ví dụ: khi học xong các chất rượu, andehyt, axit hữu cơ, este, amin, amino axit, gluxit... các em đặt lại vấn đề như sau: các tác nhân như Na, NaOH, H2, HBr, Br2... có thể tác dụng với những chất hữu cơ nào trong các chất trên. Tìm xem các điểm giống nhau và khác nhau giữa các chất.

- Khi hệ thống được các kiến thức, các em mới bắt đầu làm các bài tập lý thuyết như: sơ đồ biến hóa, nhận diện hóa chất, tinh chế hóa chất, viết công thức cấu tạo các chất đồng phân... Các em nên làm bài tập theo từng vấn đề để rút kinh nghiệm.

- Nên nhớ là dù các em thi bằng các đề trắc nghiệm nhưng khởi đầu tập luyện phải biết cách lập luận của đề tự luận, nếu không các em sẽ không biết bắt đầu từ chỗ nào để đến kết quả.
Ví dụ với câu trắc nghiệm sau:

"Cho từ từ dung dịch NaOH vào dung dịch AlCl3 khuấy đều đến khi có dư, ta thấy hiện tượng như sau:
A/ Ban đầu dung dịch trong suốt, sau một thời gian thì đục dần.
B/ Ban đầu dung dịch đục dần, sau một thời gian thì trong dần.
C/ Dung dịch từ từ đục dần cho đến cuối thí nghiệm.
D/ Dung dịch trong suốt cho đến cuối thí nghiệm.

Phân tích câu hỏi trên ta thấy kiến thức chuẩn ở phản ứng:
3NaOH + AlCl3 --> 3NaCl + Al(OH)3.
Al(OH)3 có tính lưỡng tính nên có thể tác dụng với NaOH theo phản ứng:
Al(OH)3 + NaOH --> NaAlO2 + 2H2O
Chương trình phân ban viết: Al(OH)3 + NaOH --> Na[Al(OH)4]
Xét đến thí nghiệm đề bài cho: ban đầu AlCl3 dư --> có Al(OH)3 không tan trong nước: dung dịch đục dần.
Sau một thời gian có NaOH dư --> NaAlO2 tan trong nước: dung dịch trong dần. Do đó đáp án đúng là câu B.

Khi làm bài thi các em thường mắc phải những lỗi sau:
1/ Không thuộc tên gọi các chất hóa học: ví dụ nhầm lẫn giữa "etyl clorua" với "etylen clorua"...
2/ Không nắm vững các khái niệm căn bản: ví dụ nhầm lẫn giữa "mạch hở" và "mạch thẳng"...
3/ Chủ quan khi viết các phương trình phản ứng nhưng lại quên cân bằng phương trình.
4/ Sử dụng máy tính không phải của mình khi tính toán trong các bài toán...

Như nhiều thầy cô đã khuyên, tôi chỉ nhắc lại cho các em khi làm bài trắc nghiệm là: câu dễ làm trước (thường là các câu lý thuyết), câu khó làm sau. Nếu gần hết giờ vẫn còn các câu trống thì hãy dùng phương pháp xác suất để chọn câu trả lời.


GV UNG THANH HẢI
Nguồn từ Báo Tuổi Trẻ Online

Để có kết quả thi môn toán tốt nhất

Một số gợi ý cụ thể về cách học môn toán để chuẩn bị cho các kỳ thi TNPT và tuyển sinh vào các trường ĐH.

- Sau khi nghe giảng trên lớp cần đọc lại ngay và thực hiện các bài tập đơn giản để hiểu bài và ghi nhớ các công thức, tính chất cần thiết. Không phải chỉ đọc hiểu mà phải chủ động làm các bài tập áp dụng tới khi thành thục. Lần học thứ hai là làm các bài tập khó hơn, hãy cố gắng suy nghĩ để tìm ra cách giải và chỉ nên đọc các hướng dẫn khi đã làm hết cách nhưng không tự giải được. Lần học thứ ba là để hệ thống lại bài và làm bổ sung các bài tập mà trước đó ta chưa giải được.

- Sau khi học xong một chương (gồm nhiều bài), nên thu xếp thời giờ để làm các bài tập mang tính tổng hợp kiến thức của toàn chương. Đây là cơ hội tốt để tập luyện cách huy động kiến thức liên quan cần thiết để giải các bài tập tương tự như các câu hỏi trong đề thi sau này, đồng thời cũng là dịp phát hiện những thiếu sót trong kiến thức cùng những sai lầm mà ta hay mắc phải. Việc giải ngay bài tập của từng bài với luyện giải các đề toán tổng hợp có những khác biệt rất lớn nên các em cần phải tập luyện để tích lũy kinh nghiệm.

- Cần đọc trước bài sẽ nghe giảng trên lớp. Việc làm này rất cần thiết vì nhờ đó ta đã biết một số khái niệm, một số định nghĩa đồng thời biết được phần nào khó trong bài để tập trung chú ý, nhờ đó dễ dàng nắm vững nội dung bài giảng ngay tại lớp.

- Thi ĐH môn toán ngoài nội dung chủ yếu trong chương trình lớp 12 còn có các câu hỏi liên quan đến các vấn đề đã học trong chương trình lớp 10, lớp 11 như bất đẳng thức, phương trình, bất phương trình, hệ phương trình và các bài toán về lượng giác. Do đó thí sinh cần có kế hoạch ôn tập một cách hệ thống các kiến thức nêu trên.

Theo tôi, cách học hợp lý vào các ngày cận thi là giảm cường độ, chủ yếu là đọc lại, xem lại và hệ thống các nội dung đã được học. Cần chú ý vào các sai lầm mà mình hay mắc phải, cần xem kỹ các công thức mà ta nhớ không chắc chắn. Cần đảm bảo có sức khoẻ tốt nhất trước khi dự thi. Cần tập thức dậy sớm vào buổi sáng (tự thức dậy sẽ sảng khoái và có trạng thái tâm lý tốt hơn bị gọi dậy).

Khi nhận được đề thi cần đọc thật kỹ để phân định đâu là các câu hỏi quen thuộc và dễ thực hiện (ưu tiên giải trước), còn các câu hỏi khó sẽ giải quyết sau. Thứ tự các câu hỏi được giải là theo khả năng giải quyết của thí sinh, không nên bị lệ thuộc vào thứ tự trong đề bài. Có thể đánh giá một câu hỏi nào đó là dễ và làm vào giấy thi nhưng khi làm mới thấy khó thì nên dứt khoát chuyển qua câu khác giải được dễ dàng, sau đó còn thời gian thì quay lại giải tiếp câu khó ấy. Trong khi thi không nên làm quá vội vã câu dễ (để rồi có sai sót đáng tiếc) và đừng sớm chịu thua câu khó. Hãy tận dụng thời gian thi dò lại các câu đã làm một cách cẩn thận và tập trung cao độ để tìm ra cách giải các câu khó còn lại.
TS NGUYỄN CAM (khoa toán - tin ĐH Sư phạm TP.HCM)
Nguồn từ Báo Tuổi trẻ Online

Hướng dẫn học và trả lời trắc nghiệm môn vật lý

Một số phương pháp trả lời câu trắc nghiệm thường dùng.

1. Phương pháp trả lời câu trắc nghiệm lý thuyết.

- Đối với các phương án nêu trong câu trắc nghiệm lý thuyết, ta chỉ được chọn duy nhất một phương án, đó là câu đúng (nếu phần dẫn yêu cầu chọn câu đúng hoặc nối với phương án trả lời thành một câu hoàn chỉnh và đúng) hoặc câu phát biểu sai (nếu phần dẫn yêu cầu chọn câu phát biểu sai). Trong quá trình trả lời, ta thường gặp hai trường hợp sau:

- Trường hợp 1: nhận ra ngay phương án cần chọn và khẳng định chắc chắn điều đó. Nếu đối chiếu với yêu cầu của phần dẫn thấy không có sự nhầm lẫn, học sinh có thể chọn ngay phương án này mà không cần mất thời gian suy nghĩ nhiều về các phương án còn lại. Sở dĩ ta làm như vậy vì đề thi trắc nghiệm thường dài và có nhiều câu, ta phải dành thời gian cho các câu khác.
- Trường hợp 2: không nhận ra ngay phương án đúng. Trong trường hợp này có thể dùng phương pháp loại trừ. Hãy đọc kỹ từng phương án để tìm ra chỗ vô lý nếu có của mỗi phương án và loại nó. Phương án còn lại là phương án được chọn.

2. Phương pháp giải câu trắc nghiệm bài tập.

Đối với câu trắc nghiệm bài tập, thường dùng ba cách giải sau:
- Sử dụng các giả thiết cho ở phần dẫn để áp dụng các công thức, lập và giải các phương trình như làm một câu tự luận, sau đó đối chiếu đáp số tìm được với các đáp số nêu trong phương án để tìm phương án cần chọn. Điểm khác với khi làm câu tự luận ở chỗ học sinh không phải trình bày lập luận hoặc các bước giải trung gian.
- Dùng phương pháp thử lại nghiệm để xác định nghiệm nào đúng và nghiệm nào sai. Phương pháp này thường dùng khi việc tìm ra đáp số trực tiếp khó hoặc dài.
- Dùng phương pháp loại trừ để loại các số sai, từ đó tìm ra phương án cần chọn. Các đáp số sai thường là:
+ Đáp số sai về đơn vị.
+ Đáp số chứa đựng các mâu thuẫn.
+ Đáp số bằng chữ, không đúng cho trường hợp đặc biệt.
Ví dụ: cho đoạn mạch có ba phần tử mắc nối tiếp gồm điện trở R, tụ điện có dung kháng Zc, cuộn dây thuần cảm mà độ tự cảm của nó có thể thay đổi trong một giới hạn rộng. Hiệu điện thế hiệu dụng giữa hai đầu đoạn mạch là U. Khi thay đổi độ tự cảm của cuộn dây, hiệu điện thế cực đại giữa hai đầu cuộn dây có giá trị cực đại là:
A. UR/√(Z2c +R2).
B. (U.(√(Z2c +R2))/R.
C. UR/2(√(Z2c +R2)).
D. (U.(√(Z2c+R2)))/2R.
Ta có thể nhận xét: trong trường hợp đặc biệt khi Zc = 0, có nghĩa đoạn mạch không chứa tụ điện thì hiệu điện thế trên cuộn dây có thể tiến đến giá trị lớn nhất là U nếu cảm kháng của cuộn dây rất lớn so với điện trở R. Vậy khi thay Zc = 0 thì ULmax = U. Các đáp số nêu trong phương án C và D cho giá trị ULmax = U/2 khi Zc = 0, không thỏa mãn điều kiện này nên bị loại. Hơn nữa, trong đoạn mạch RLC nối tiếp, hiệu điện thế trên tụ điện và trên cuộn cảm đều có thể có giá trị lớn hơn U. Đáp số nêu trong phương án A cho giá trị không lớn hơn U nên cũng bị loại. Do vậy, phương án cần chọn là B.

Nguồn từ Báo Tuổi Trẻ Online

Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2012

Tiến sĩ Y học cộng đồng Trịnh Thắng: Từ cậu bé chăn vịt hôi hám đến ông tiến sĩ

Chưa đầy 40 tuổi, Thắng đã làm được nhiều việc xuất sắc: Lấy bằng tiến sĩ y học cộng đồng ở Mỹ chỉ trong hai năm rưỡi (trong thời gian đó hoàn thành luôn hai cuốn tiểu thuyết), trở thành võ sư, làm thơ, viết truyện ngắn, sáng tác nhạc, người dạy hùng biện tiếng Anh rất được giới trẻ hâm mộ. Ấn tượng đặc biệt về Thắng: Một nhà khoa học trẻ giỏi giang, tự tin, lạc quan, tràn đầy nhiệt huyết sống.

Cậu bé chăn vịt hôi hám và người viết lạc quan
Truyện "Dấu ấn đồng quê" của Thắng không nhuốm màu buồn, xót xa thương cảm mà gợi lên trong lòng người đọc một tình yêu dịu dàng, thanh khiết về đồng ruộng và làng quê Việt Nam... Điều gì tạo nên điều đó?
Tôi chăn vịt từ khi 6 tuổi, đam mê và vui thú với đàn vịt như trẻ con nhà khá giả chơi đồ hàng. Một đứa trẻ sáu tuổi, có đồ hàng là một đàn vịt có xương có thịt, lội lạch bạch trên những chân rạ mới gặt mênh mông, thỉnh thoảng lại được cùng vịt bơi lội tung tăng trên mương, trên ao. Thích lắm!
Tôi luôn lạc quan và làm việc gì cũng đam mê, nhiệt huyết. Sự nhiệt huyết, niềm lạc quan ấy tất nhiên là lan tỏa vào những trang viết.
Nghề chăn vịt từ thuở bé kể ra cũng giúp Thắng thu hoạch được nhiều phết ấy nhỉ?
Không hẳn như vậy đâu. Ban ngày đi chăn vịt, tối về lại cho vịt ăn, đến nỗi tôi không có thời gian học. Người tôi lúc nào cũng hôi hám. Mùi hôi của vịt quyện với đất cát kết vào quần áo đến mức ngậm thấy mằn mặn. Nhưng nó cũng trở thành quen thuộc, không ngửi mùi ấy hằng đêm ngủ không ngon. Trẻ con ở quê không ai chơi nên tôi chỉ nghịch với mấy con cào cào. Vì chăn vịt mà hồi bé tôi bị mặc định là "đần" đấy.

Thiền?

Đọc truyện của Thắng, nhắm mắt lại tưởng tượng đó là truyện ngắn của Nhật, của phương Tây, miêu tả theo cách của một thiền sư đứng ở một góc nào đấy nhìn cuộc sống, chứ không phải của người đã đi qua cuộc sống?
Trong tất cả các tác phẩm tôi viết đều có tính thiền. Nỗi đau của người khác được chuyển hóa thành một nỗi niềm nào đó người ta chấp nhận được. Không bao giờ đẩy cho nhân vật xuống hố bùn không ngóc lên được mà phải để cho người ta lối thoát. Thơ cũng thế. Thơ tôi cồn cào nhưng câu kết bao giờ cũng để lại âm hưởng lạc quan, dịu dàng.

Học tiếng Anh?

Tôi thấy lý do đầu tiên để Trịnh Thắng rất tự tin là vì giỏi tiếng Anh, nhất là khả năng nghe - nói. (Tôi đã nhìn thấy nhiều người giỏi tiếng Anh ngưỡng mộ Thắng về khoản này). "Cậu bé chăn vịt" học cách nào mà siêu vậy?
Ba năm đầu Đại học Y, tôi học tiếng Pháp rất giỏi vì tiếng Pháp liên quan nhiều đến Y khoa. Đến năm thứ 3 Đại học, người yêu, bây giờ là vợ, bảo với tôi rằng: "Anh phải đi học tiếng Anh vì xu hướng bây giờ người ta toàn học tiếng Anh". Rồi cô ấy dẫn tôi đến nhà một người bạn chơi, thấy bạn bè nói với nhau bằng tiếng Anh, tôi rất ấm ức. Thế là tôi quyết tâm học tiếng Anh. Ba tháng đầu tôi tự học tiếng Anh trình độ A, B, C, thuộc lòng hết ngữ pháp và cả một kho từ vựng. Trong vòng hai năm, tôi trở thành một người giỏi tiếng Anh. Học đến năm thứ 5 của ĐH Y, tôi có thể dạy tiếng Anh cho bạn bè và con của các thầy cô trong trường.
Trường tôi có một thầy giáo rất giỏi tiếng Anh tên là Ấn. (Hiện nay thầy vẫn dạy ở ĐH Y Thái Bình). Tôi còn nhớ hồi tôi đến gặp thầy và xin được nói bằng tiếng Anh, thầy bảo: "Thầy không hiểu em nói gì hết. Em tự đi tìm bạn bè mà học nói nhé!". Tôi trả lời: "Em chỉ thích nói giống như người nước ngoài". Rồi thầy chỉ cho tôi chương trình VOA (Voice of America) để tự học. Đó là người có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiếng Anh của tôi.
Tôi mua đài để rèn luyện khả năng nghe, nói. Không đủ tiền mua đài vừa nghe vừa ghi, tôi mua một cái nghe, một cái ghi để nghe phát sóng ban ngày và ghi lại. Mỗi ngày ghi 60 phút và bắt chước theo giọng trong băng. Ngày nào không nghe hết băng tôi không coi đấy là một ngày.
Lúc đầu tập nói câu rất ngắn, sau là câu dài, rồi một đoạn, bắt chước giọng các MC trong chương trình ca nhạc nước ngoài và chương trình đối thoại với nước Mỹ (Talk To America). Đi đâu tôi cũng lảm nhảm nói tiếng Anh, vào toilet nhà bạn gái cũng nói tiếng Anh, thậm chí bố người yêu gọi con gái ra bảo: "Phải nghiên cứu lại thằng này".
Sau đó, người ở công ty dầu khí của Mỹ về trường Đại học tuyển một sinh viên đi làm bác sĩ khám chữa bệnh cho gia đình. Tôi xung phong đi làm thêm để rèn luyện thêm tiếng Anh. Được nghe nói trực tiếp với người nước ngoài hàng ngày, tiếng Anh của tôi tiến bộ rất nhanh.
Trong thời gian học nói tôi không hề viết, cứ nhìn là thuộc ngay. Tôi đam mê tiếng Anh đến nỗi lên thư viện người ta đọc sách bằng tiếng Việt thì tôi đọc bằng tiếng Anh. Trong trường Y có nhiều dự án, hồi đó thầy Ấn hay nhận tài liệu về nhà dịch. Thầy gọi tôi đến nhà đào tạo cho cách dịch. Tôi dịch xong thầy chỉnh lại. Và tôi cứ học theo những lúc thầy chỉnh như thế.
Một số người lên Hà Nội thi TOEFL về bảo: "chú chắc chỉ được 500 điểm TOEFL là tối đa". Tôi bắt đầu nhụt chí và thấy ước mơ du học xa vời. Đến lúc lên Hà Nội thi tuyển du học thạc sĩ ở Mỹ, tôi thủ khoa vòng 1 và vòng 2 (vòng chính thức). Tôi đạt điểm viết tối đa trong lần đó.
Từ đó nhiều người nói tôi thông minh. Và tôi cũng bắt đầu nghĩ mình là người thông minh (hic).
Bây giờ Thắng còn là một đệ tử tích cực của Vũ Gia Thân Pháp. Vì sao mà một sinh viên y khoa lại "tự dưng" học võ vậy?
Hồi nhỏ tôi ốm yếu nên lúc nào cũng muốn được khoẻ mạnh. Vào đại học, thấy người ta mở các câu lạc bộ võ thuật là tôi theo liền. Lúc đầu tập Karatedo, sau đến Tán Thủ nhưng hai môn này không phù hợp. Tôi lại đi tìm thầy và may mắn gặp các vị tiền bối về Thái Cực Quyền, Khí Công và Vũ Gia Thân Pháp. Những môn này ôn hòa, lấy nhu làm gốc và lấy khí huyết làm chủ nên tôi thích và theo.

Nhà tình dục học?

Xuất phát từ một gia đình nông dân Á Đông, ban đầu rất bỡ ngỡ nhưng rồi Thắng lại trở thành một chuyên gia tình dục. Sự chuyển biến trong Thắng như thế nào để đạt được điều ấy?
Tôi không dám khẳng định mình là chuyên gia tình dục mà ai cũng có thể là chuyên gia tình dục nếu xét về góc độ nào đấy. Nhưng nói có duyên có thể đúng vì hồi tôi học thạc sĩ ở Mỹ, đề tài cũng liên quan đến tình dục. Sau đấy làm tiến sĩ cũng về hành vi tình dục của vị thành niên. Tôi đã từng giảng về tình dục cho anh em Việt Nam ở Mỹ. Nhiều lúc như là duyên, là cơ hội, mình không lên kế hoạch nhưng người ta vẫn bắt mình nói, nhất là nam giới vì tôi thường phá được các rào cản nhạy cảm, không hề gượng gạo, ngượng ngùng. Về nước, công việc của tôi cũng gắn kết với nhiều vấn đề về tình dục. Đôi khi đó là những cơ hội tự nó đến chứ không liên quan gì đến sự lựa chọn của bản thân.
Nhiều người nghĩ tình dục chỉ đơn thuần là quan hệ, nhưng thực chất nó bao hàm rất nhiều vấn đề liên quan... Nếu nói hết thì rất rộng lớn nhưng muốn nhấn mạnh một điều thì tình dục không đơn thuần như nhiều người vẫn nghĩ.
Phong cách sinh hoạt tự nhiên của Thắng có gặp phải cản trở hay là va chạm nào không? Thắng ứng xử với những hoàn cảnh khác nhau như thế nào để vẫn giữ được là mình?
Có chứ. Những trở ngại đầu tiên chính là tâm lý của bản thân mình. Nhiều người mới nhìn bên ngoài thường nhận xét: thằng này mới tí tuổi đã để râu, tiến sĩ mà cứ ăn mặc không nghiêm ngắn... Nhưng khi tiếp xúc trực tiếp, họ sẽ nhanh chóng mất đi cảm giác ấy. Tôi đi giảng dạy rất nhiều và được sinh viên quý vì tính thân thiện.
Quan trọng là mình không bao giờ đánh mất lòng tự trọng thì người ta sẽ đón nhận mình, còn ăn mặc chỉ là một phần rất nhỏ.
Vợ có đồng cảm với việc Thắng làm không?
Vợ tôi là người chịu rất nhiều thiệt thòi, hi sinh rất nhiều khi chồng có nhiều đam mê như thế. Trong tất cả đam mê của tôi, vợ tôi chỉ thích về võ thuật và khí công vì nó có lợi cho sức khoẻ.

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

Kỹ năng làm bài thi hiệu quả dành cho Học sinh THPT

Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT hằng năm, nhiều học sinh (HS) tuy thuộc bài nhưng không đạt điểm cao, thậm chí bị trượt. Nguyên nhân là do thiếu kỹ năng và kỹ thuật làm bài thi.
- Xin chia sẻ vài kinh nghiệm sau đây để HS đạt điểm cao trong kỳ thi tốt nghiệp THPT sắp đến.

Kỹ năng làm bài

- Đối với những môn thi trắc nghiệm, kiến thức thường ra rộng nên khi làm bài HS cần phải đọc và làm nhanh một lượt, câu nào chưa rõ bỏ qua. Không nên dừng lại quá lâu cho một câu, nếu không làm được thì nên tạm thời bỏ qua, gần cuối giờ có thể quay trở lại.
- Kinh nghiệm cho thấy, những câu chắc chắn đúng HS phải tô đậm vào phiếu trả lời trắc nghiệm, câu nào còn phân vân nên tô nhạt để sau đó có thay đổi phương án cũng dễ tẩy hơn. Cần tránh tô 2 ô trở lên cho một câu trắc nghiệm vì trong trường hợp này, máy không chấm và câu đó không có điểm. Nếu làm sai, HS cần chú ý xóa kỹ phương án trả lời sai để máy chấm không hiểu nhầm là có hai trả lời cho câu hỏi.
- Để làm tốt bài thi tự luận, HS cần phải chú ý đọc kỹ đề thi. Việc đọc kỹ đề thi không những tránh được tình trạng xa đề, lạc đề mà còn giúp HS tập trung vào những vấn đề mấu chốt của câu hỏi và tiết kiệm được lượng thời gian lớn khi làm bài thi.

Kỹ thuật làm bài

- Câu nào thuộc nên làm trước. Những năm gần đây, để tránh học tủ, nội dung đề thi thường rải khắp chương trình. Cùng một lúc HS phải học nhiều môn, lượng kiến thức nhiều, chắc chắn sẽ học không xuể. Vì vậy, khi làm bài thi cứ câu nào thuộc nhất hoặc nắm chắc nhất là làm trước để lấy điểm, sau đó mới làm câu khác.
- Dành nhiều thời gian cho câu hỏi có số điểm cao. Nếu làm theo cấu trúc đề thi hoặc tập trung cho câu ít điểm, chắc chắn HS sẽ bỏ lỡ cơ hội giành điểm cao nhất cho mỗi môn thi.
- Ngoài ra, một bài thi tự luận có đạt điểm tuyệt đối hay không thường liên quan đến việc trình bày. - Nhiều HS sau khi thi xong nói rằng, em làm đầy đủ nhưng sao lại không đạt điểm tuyệt đối. Đó cũng là vì trình bày bài viết cẩu thả, chữ viết nguệch ngoạc, viết tắt...

Theo Báo Thanh niên

Ôn thi tốt nghiệp môn Địa lý: Nên tận dụng tối đa Atlat

Để kiếm điểm cao môn Địa không khó, chỉ cần bao quát toàn bộ chương trình, sau đó hệ thống lại nội dung kiến thức từng chuyên đề hoặc từng phần, chương, bài theo một dàn ý rõ ràng, chặt chẽ. Bên cạnh đó, biết cách sử dụng, phân tích dữ liệu từ tập Atlat.

Đó là quan điểm của cô Vũ Thị Mai Huế, giáo viên Địa Lý, Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (Nam Định) chia sẻ với các bạn học sinh (HS) cả nước về cách ôn tập bộ môn này ở kì thi tốt nghiệp THPT năm nay.

Cũng theo cô Huế, mấu chốt qua trọng khi ôn tập là bám sát vào cấu trúc đề thi của Bộ GD-ĐT. Không cần phải học chuyên sâu mà chỉ cần nắm chắc kiến thức cơ bản để có thế kết hợp với dữ liệu của bảng Atlat được sử dụng là hoàn toàn có thể kiếm được điểm cao.

Điều đặc biệt đối với môn Địa lý, HS ban A có khả năng tiếp thu kiến thức cũng như định hướng cách làm bài rất nhanh. Chính vì thế, nếu có được kĩ năng khai thác được kiến thức từ Atlat tốt thì chỉ cần trong vòng từ 1-1,5 tháng là HS có thể hoàn thành tốt khâu ôn tập.

Tuy nhiên để đạt điểm cao nhất thì điều quan trọng là HS cần phải nắm được kiến thức cơ bản, biết cách lập dàn ý cho từng vấn đề và Atlat là công cụ để các em lấp đầy những dàn ý. Bên cạnh đó các em cần rèn cho mình kĩ năng làm bài thi: tâm lí bình tĩnh, đọc kĩ đề bài, định hướng chính xác yêu cầu đề bài và phân bố thời gian làm bài hợp lý.

Đề thi Địa lý thường rơi vào một trong các hình thức sau: một là dạng đề trình bày nhằm kiểm tra sự ghi nhớ kiến thức của thí sinh. Hai là dạng đề phân tích - chứng minh. Đối với câu hỏi dạng này thí sinh không chỉ nhớ kiến thức mà còn phải biết vận dụng để lý luận, phân tích, chứng minh một vấn đề.

Ba là dạng đề so sánh đòi hỏi thí sinh cần tổng hợp kiến thức để phân biệt sự giống và khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng địa lý. Bốn là dạng đề giải thích nhằm đánh giá khả năng vận dụng kiến thức của HS.

Và tất cả những dạng câu hỏi này đều có thể khai thác được kiến thức từ Atlat và thực tiễn cuộc sống để làm bài.

Đối với phần vẽ biểu đồ thì các dạng thường gặp là biểu đồ cột, biểu đồ đường hay đồ thị, biểu đồ tròn, biểu đồ miền, biểu đồ kết hợp (cột và đường). HS cần nắm vững đặc điểm của từng dạng biểu đồ như dạng biểu đồ so sánh thường là biểu đồ cột, dạng thể hiện cơ cấu hay chuyển dịch cơ cấu thường dùng biểu đồ tròn hay miền... Bên cạnh đó HS cần chú ý kỹ năng tưởng đơn giản nhất nhưng rất quan trọng như phân chia tỷ lệ, chọn độ dài các trục và thể hiện trị số, đơn vị trên đó, vị trí và thứ tự cách vẽ thành phần trong biểu đồ cơ cấu, sử dụng các ký hiệu để thể hiện nội dung khác nhau, ghi chú giải và tên biểu đồ; ngay như xử lí số liệu thì tên bảng và đơn vị của bảng số liệu mới cũng cần phải rất chính xác (mà vấn đề này HS không hay để ý, vì thế rất dễ bị mất điểm).

Một trong những vấn đề nhiều HS thường kêu khó đó là phân tích bảng số liệu. Đối với dạng này đòi hỏi kỹ năng tính toán, phân tích bảng số liệu, tìm ra quy luật, mối liên hệ giữa các số liệu, rút ra nhận xét hoặc giải thích. Về tính toán thì HS cần chuyển đổi số liệu, tùy từng yêu cầu của đề bài mà có thể chuyển từ số liệu tuyệt đối sang tương đối (%); tạo đại lượng mới như từ dân số (người) và diện tích (km2) và để tính mật độ dân số (người/km2); từ sản lượng (tấn) và diện tích (ha) để tính năng suất (tấn/ha; tạ/ha)... Về nhận xét: Phải nêu được bản chất của vấn đề theo đùng yêu cầu đề bài.

“Nếu biết sử dụng Atlat thì việc học Địa lý sẽ “nhàn” hơn rất nhiều vì không phải ghi nhớ nhiều địa danh và số liệu. HS cần biết đọc và mô tả được các đặc điểm của hiện tượng địa lý trên bản đồ. HS cần nghiên cứu để hiểu nội dung Atlat, nắm chắc ký hiệu, ước hiệu bản đồ, xác định được phạm vi các lãnh thổ” - cô Huế nhấn mạnh.

Mặc dù bảng Atlat được coi như là “phao cứu sinh” dành cho môn Địa lý nhưng cô Huế vẫn cảnh bảo: “Tài liệu này giổng như là kiến thức tổng quát, HS phải biết cách chọn nội dung để khai thác. Chính vì thế để làm được bài tốt cần nắm vững các kiến thức cơ bản”.

Theo Dân trí

Giáo viên trường chuyên bày cách ôn tập môn Sử

“Nên dùng sơ đồ tư duy để ôn tập Lịch sử bởi đó là cách nhanh nhất để hệ thống hóa kiến thức và quan trọng hơn, học sinh dễ nhìn được tổng quan bài học. Tuyệt đối không nên học tủ mà cần phải ôn tập đầy đủ và có trọng tâm”.

Đó là những chia sẻ của thầy Trần Huy Đoàn, giáo viên dạy Lịch sử Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (Nam Định) với các bạn học sinh (HS) cũng như các đồng nghiệp về cách ôn tập môn học này trong kì thi tốt nghiệp THPT năm nay. Theo thầy Huy Đoàn, HS cần có hai cơ sở để ôn thi tốt nghiệp. Một là nội dung ôn tập và hai là phương pháp ôn tập.

Về nội dung ôn tập: Trước hết, HS cần định hướng rõ ràng về cấu trúc đề thi và ma trận đề thi. Về cấu trúc đề thi tốt nghiệp, theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT có hai phần: phần chung và phần tự chọn. Mức điểm số ở phần chung là 7 điểm còn phần riêng là 3 điểm. Về ma trận đề thi, có ba bậc: bậc 1, yêu cầu nhận biết (chiếm khoảng 70% số điểm); bậc 2, yêu cầu hiểu biết (chiếm khoảng 20% số điểm); bậc 3, yêu cầu vận dụng (chiếm khoảng 10% số điểm). Riêng đối với GDTX thì mức độ vận dụng nhẹ nhàng đi còn phần nhận biết tăng lên. Trên cơ sở cấu trúc đề thi và ma trân đề thi, học sinh sẽ xác định về dung lượng kiến thức và phương pháp ôn tập cho hiệu quả.

Tài liệu ôn tập: HS nên bám vào SGK và Tài liệu “Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng” môn lịch sử lớp 12 của Bộ GD-ĐT. Không nên chỉ sử dụng mỗi tài liệu chuẩn bởi đây là tài liệu mang tính chất gợi ý. Cách đây vài năm có HS khi học theo tài liệu chuẩn đã không làm được trọn vẹn bài thi nên dẫn đến điểm số không cao.

Khi ôn thi tốt nghiệp, giáo viên (GV) cần phải đưa ra các kiến thức cơ bản, bám sát vào mục tiêu cấp học theo đúng tinh thần của Bộ GD-ĐT đề ra. GV cũng nên căn cứ vào phần “Hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học môn Lịch sử, cấp THPT” năm 2011-2012 của Bộ GD-ĐT để giảm tải, cắt bỏ những phần không thuộc phạm vi chương trình giảng dạy. Những phần đọc thêm thì cần tổ chức cho HS tự học.

Về phương pháp ôn tập: yêu cầu đối với GV là nên tập trung phần kiến thức cơ bản. Cần trình bày mạch lạc, rõ ràng, gọn nhất theo kiến thức cơ bản. Không nên trang bị quá nhiều sẽ khiến HS không thể tiếp thu được.

Về phía HS thì cách tự học hiệu quả nhất là nên tổ chức nhóm 2-3 người để tự truy bài cho nhau. Tổ chức thu gọn kiến thức một cách hệ thống theo bài, theo chương.

Trong khi ôn tập, HS nên lập sơ đồ tư duy theo từng nội dung. Từ một vấn đề lớn, được phát triển thành các nhánh đơn vị kiến thức nhỏ. Thông qua đó dễ nhìn và hệ thống kiến thức một cách mạch lạc hơn.

Khi làm bài thi, nên dành 10 phút để đọc kỹ đề, nội dụng câu hỏi cần trả lời. Xác định đó là sự kiện nào, phạm vi thời gian nào xảy ra sự kiện đó...Khâu này rất quan trọng bởi hiểu nhầm đề, lạc đề rất nguy hiểm. Phải biết tỉnh táo dựa vào ý nghĩa các sự kiện để xác định sự kiện.

Chẳng hạn như “Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975), phong trào đấu tranh nào đánh dấu bước phát triển của cách mạng ở miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công?” thì cần phải liên tưởng ngay đến phong trào Đồng Khởi (1959-1960).

Bên cạnh đó, HS cũng cần phải định hình rõ ràng câu hỏi bởi nhiều cụm từ thường hay làm các em hiểu lầm. Ví dụ khi nói đến “thắng lợi nào” thì HS cứ nghĩ ngay đến các sự kiến gắn liền với chiến thắng quân sự. Nhưng trên thực tế có nhiều góc độ xét đến việc thắng lợi như thắng lợi kinh tế, thắng lợi về chính trị, thắng lợi về ngoại giao, thắng lợi về quân sự…

Theo Dân trí

Ôn tập nhanh và hiệu quả môn Hóa học

“Kiến thức là yếu tố tiên quyết để làm tốt bài thi Hóa học, cho dù là với câu hỏi lý thuyết hay với bài tập tính toán, không có kiến thức Hóa học thì không thể làm được bất cứ câu nào trong đề thi.”

 Dưới đây là nội dung chia sẻ của thầy Vũ Khắc Ngọc nhằm giúp các bạn học sinh tập trung ôn thi hiệu quả môn Hóa học trong thời gian còn lại.

1, Thường xuyên hệ thống hóa kiến thức bằng mọi cách

Kiến thức là yếu tố tiên quyết để làm tốt bài thi Hóa học, cho dù là với câu hỏi lý thuyết hay với bài tập tính toán, không có kiến thức Hóa học thì không thể làm được bất cứ câu nào trong đề thi.

Kiến thức Hóa học có đặc thù riêng là mang tính hệ thống và liên tục, không giống với môn Vật lí hay Toán mà trong đó Điện – Quang – Cơ … hay Tổ hợp – Lượng giác – Hình không gian… hầu như không có mối liên hệ rõ ràng nào với nhau, hay môn Lý chủ yếu chỉ ôn tập chương trình lớp 12 là đủ. Kiến thức Hóa học có sự gắn kết liên tục và mang tính hệ thống, trải đều qua cả 3 năm học. Sự phân chia các nội dung Đại cương – Vô cơ – Hữu cơ … chỉ để giúp cho người học dễ học, chứ không dễ ôn tập.

Khi ôn tập kiến thức Hóa học, điều tối quan trọng là các em phải hệ thống, xâu chuỗi được nội dung mình đang ôn tập với các phần kiến thức có liên quan khác. Lý thuyết của Hóa học không cứng nhắc và cũng không giản đơn, ta không thể ôn tập bằng cách “đọc chay” hay “học vẹt” mà phải bằng cách luyện tập, thường xuyên ghi ra, viết ra, “gọi từ trong đầu ra” thì mới hiểu và nhớ lâu được. Để làm được điều đó thì có một cách đơn giản là khi gặp bất kỳ câu hỏi nào, bài tập nào, các em hãy cố gắng không chỉ tìm cách giải quyết câu hỏi đó, bài toán đó mà còn tìm cách liên hệ với các kiến thức liên quan đến nó để nhớ lại, hồi tưởng lại.


Rõ ràng đây là một bài tập rất đơn giản và không có nhiều điều để bàn. Khi học hay khi làm bài kiểm tra, bài thi, ta chỉ dừng lại ở đây là đủ. Tuy nhiên, nếu đang trong giai đoạn ôn tập, ta cần suy nghĩ nhiều hơn thế. Thầy có thể dẫn giải ra đây một vài suy nghĩ. Một vài cách đặt vấn đề điển hình như sau:

- Bài toán còn có thể giải bằng cách nào khác nữa không?

Bài toán chắc chắn còn có thể giải được bằng phương pháp Trung bình kết hợp với Đường chéo, ngoài ra có thể giải được bằng cách “thử đáp án”, ta có thể thay số lần lượt các kết quả từng đáp án vào, xem đáp án nào phù hợp với số liệu khối lượng của giả thiết.

- Vấn đề Hóa học mà bài toán nêu ra là gì?

Bài tập này liên quan đến tính chất “Halogen mạnh đẩy Halogen yếu ra khỏi dung dịch muối của chúng”: F2 > Cl2 > Br2 > I2 về tính oxi hóa.

Ngoài ra, từ các tính chất trên, ta có thể đặt thêm câu hỏi: nếu các đơn chất halogen biến thiên như vậy, thì các hợp chất của chúng sẽ biến đổi như thế nào? – Trả lời cho câu hỏi này, chúng ta sẽ lại có thêm các dãy biến thiên:

Như vậy, chỉ thông qua một bài toán nhỏ và rất đơn giản, ta đã chủ động ôn tập lại được rất nhiều vấn đề quan trọng trong lý thuyết Hóa học. Chỉ cần áp dụng cách suy nghĩ trên cho các bài tập khác (lặp đi lặp lại trong các bài tập có vấn đề Hóa học tương tự), các em sẽ thấy rằng lý thuyết Hóa học phổ thông tuy rất rộng lớn và “tưởng như khó học, khó nhớ” thực ra lại có thể ôn tập và hệ thống rất dễ dàng chỉ thông qua một số ít các bài tập đơn giản. Đây chính là phương pháp “học ít” mà mang lại “nhiều hiệu quả”, giúp các em vừa có thể ôn tập, nắm vững kiến thức trong thời gian ngắn, vừa tiết kiệm để dành thời gian và công sức ôn tập các môn học khác.

2. Rèn luyện kỹ năng tính và phản xạ tư duy 

Không phải bài toán nào cũng có cách giải đặc biệt nhanh, không phải bài toán nào cũng có công thức tính riêng. Để giải một bài toán thật nhanh và hiệu quả, việc trước tiên là phải rèn luyện kỹ năng tính và phản xạ tư duy. Các em không thể đòi hỏi việc giải nhanh một bài toán Hóa học nếu như chính các em không thể tính nhanh được từ những phép tính đơn giản nhất.

Các quy tắc nhân nhẩm, các dấu hiệu chia hết, xấp xỉ, … là những kiến thức cơ sở mà bất kỳ học sinh nào cũng đã được học và nó cực kỳ hữu dụng cho bất cứ môn học nào, không chỉ giúp ta tính nhanh, tính nhẩm một số đại lượng trong bài toán mà đôi khi còn là giải pháp mang tính quyết định giúp bài toán được giải quyết nhanh gọn và hiệu quả hơn.


3. Phân biệt được những đặc trưng của hình thức thi trắc nghiệm so với tự luận và ứng dụng 

Một bài toán trắc nghiệm hoàn toàn không đơn giản là một bài tập tự luận có 4 đáp án (trắc nghiệm ≠ tự luận + 4 đáp án), một câu hỏi trắc nghiệm hoàn chỉnh và có chất lượng, nhất là các câu hỏi trong đề thi ĐH đều có 4 “đáp án nhiễu” hàm chứa nhiều “dụng ý”. Khi giải một bài tập trắc nghiệm, nhất thiết phải bám sát và đối chiếu liên tục với 4 đáp án mà đề bài đưa ra, để từ đó có những nhận định đúng đắn và phù hợp, giúp ta có thể đưa ra những giải pháp nhanh nhất và hiệu quả nhất cho các yêu cầu của bài toán. Phương pháp khai thác các thông tin từ 4 đáp án để tăng nhanh tốc độ và hiệu quả của việc giải toán được gọi chung là phương pháp Chọn ngẫu nhiên.

Đó có thể là việc sử dụng các thông tin 4 đáp án như là một cách “tự bổ sung thông tin” để việc giải toán trở nên đơn giản hơn.


- Ngoài ra, một trong những đặc trưng quan trọng nhất của bài thi trắc nghiệm là không có barem điểm cho từng ý nhỏ, trong bài thi tự luận, ta có thể “cố” trình bày tối đa tất cả những bước giải đã thực hiện được để hy vọng có thêm điểm, cho dù chưa có được kết quả cuối cùng nhưng đối với bài thi trắc nghiệm thì chỉ có kết quả chọn đáp án cuối cùng mới được dùng để tính điểm.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là quá trình làm bài trước đó trở thành vô nghĩa, mỗi một dữ kiện của bài toán đều hàm chứa những ý nghĩa nhất định, cho dù chưa “giải mã” được hết các dữ kiện đó hoặc chưa xâu chuỗi chúng lại với nhau được thì ta vẫn có thể giới hạn lại các khả năng “có thể đúng” nhất. Trong các trường hợp này, việc khai thác thông tin, bám sát vào 4 đáp án là rất cần thiết và cho hiệu quả cao.

4. Tích lũy kinh nghiệm làm bài thi

Kinh nghiệm làm bài là một yếu tố hết sức quan trọng trong mỗi kỳ thi, nhất là kỳ thi ĐH. Có rất nhiều bài toán tưởng như lắt léo nhưng nếu có nhiều kinh nghiệm thì chỉ cần đọc đề, ta đã phán đoán được hướng giải, dự đoán được chất nào dư, chất nào hết, đáp án nào có nhiều khả năng đúng …. Mặt khác, trong đề thi ĐH đôi khi vẫn có những câu hỏi chưa thật chặt chẽ hoặc có nhiều cách hiểu khác nhau, khi đó, chỉ có kinh nghiệm mới giúp ta “hiểu đúng ý người ra đề” và có được kết quả tốt.


5. Nắm vững và chỉ ra được các dấu hiệu quyết định đến phương pháp giải bài toán 

Một bài toán Hóa học là tập hợp của nhiều dữ kiện giải toán khác nhau mà cách giải bị chi phối bởi 2 yếu tố chính là: các phản ứng Hóa học xảy ra trong bài và các phương pháp cần dùng để giải bài toán đó. Để giải được một bài toán sao cho nhanh và chính xác, nhất thiết phải giải quyết cho được 2 yếu tố đó, nếu nắm được phương pháp giải bài toán mà không biết tính chất Hóa học thì không thể giải được và ngược lại, nếu nắm được bản chất Hóa học mà không lựa chọn được phương pháp phù hợp thì việc giải toán sẽ rất khó khăn và tốn nhiều thời gian.

Cũng chính bởi vì thế mà việc học phương pháp giải toán Hóa học không thể cứng nhắc thành những “dạng bài” hay “công thức tính” như Toán hay Lý, cùng là phương pháp giải toán ấy nhưng đặt vào một bài toán cụ thể với những phản ứng Hóa học cụ thể thì cách tính sẽ khác, chứ không thể máy móc “thay số vào công thức” hay “áp dụng biển đổi như dạng bài” theo kiểu Toán và Lý được. Các công thức hay dạng bài trong giải toán Hóa học có rất nhiều nhưng phạm vi áp dụng cho mỗi công thức lại khá hẹp và đòi hỏi rất nhiều điều kiện, chỉ cần bài toán thay đổi một dữ kiện nhỏ là công thức tính hay cách biến đổi cũng phải thay đổi theo và do đó, thầy không khuyến khích các em giải toán theo các công thức cứng nhắc nếu như phạm vi ứng dụng của nó không nhiều, nhất là khi các em còn chưa nắm được bản chất và các điều kiện làm cho công thức ấy đúng.

Thông thường, những phản ứng dùng trong bài toán Hóa học thường là các phản ứng quen thuộc, đặc trưng cho các nhóm chất và không quá khó. Tuy nhiên, trong đề thi ĐH, các dữ kiện Hóa học trong bài toán thường được làm lắt léo, vòng vèo để che giấu phương pháp chính (phương pháp quyết định), mặt khác, đề thi ĐH cũng thường cho các bài tập đòi hỏi phải kết hợp nhiều phương pháp để giải, khiến cho các em dễ lúng túng trong việc lựa chọn phương pháp hơn là về mặt Hóa học của bài toán. Do đó, việc học tập phương pháp giải toán cũng là một nội dung ôn tập quan trọng cần được ưu tiên, sao cho ngay khi đọc xong đề bài, các em đã có thể chỉ ra được những “dấu hiệu” của các phương pháp giải toán, biết ngay được bài toán đó để giải nó phải dùng những phương pháp nào, thậm chí là có thể giải bằng bao nhiêu cách. Điều này là không dễ thực hiện, khi mà nhận thức của giáo viên trong việc giảng dạy phương pháp còn nhiều hạn chế, năng lực và thời gian lên lớp còn có hạn. Ngay cả các sách tham khảo hiện nay trên thị trường cũng chỉ chủ yếu “chạy theo thị hiếu” chứ chưa “đáp ứng được yêu cầu”, số đầu sách tham khảo về phương pháp rất nhiều nhưng phần lớn vẫn chỉ lướt qua phần cơ sở phương pháp và sa vào việc đưa ví dụ rồi giải, hầu như chưa có cuốn nào đủ sức khái quát, chỉ rõ được “các dấu hiệu nhận biết phương pháp giải toán” để giúp các em có được thuận lợi khi làm bài.

Thầy Vũ Khắc Ngọc

Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

Học Vật lí thế nào là đúng cách ?

Lúng túng khi làm bài tập mặc dù đã nắm được cơ bản lí thuyết, bối rối khi đứng trước các dạng bài mới hoặc "quen quen" mà không tìm ra phương án giải… là những vấn đề mà học sinh khi học và ôn luyện môn Vật lí hay gặp phải. Trong bài viết này, tôi sẽ giới thiệu đến các bạn những chia sẻ rất ngắn gọn nhưng mang tính chiến lược của thầy giáo Nguyễn Hoàng Kim nhằm giúp cho học sinh khắc phục được những vấn đề nêu trên.

Thầy Kim cho biết: “Nguyên nhân chính khiến các bạn học sinh lúng túng và mất nhiều thời gian học đi học lại kiến thức môn Vật lí là do không hiểu bản chất hiện tượng vật lí cũng như yếu và thiếu các kiến thức toán học liên quan.”

Để hiểu được bản chất của hiện tượng vật lí, đòi hỏi học sinh phải tự học và rèn luyện thường xuyên, liên tục, thực hiện thứ tự 4 bước sau:

Bước 1: Học kĩ lí thuyết trong sách giáo khoa
Bước 2: Làm toàn bộ các bài tập trong sách giáo khoa
Bước 3: Làm bài tâp ở sách bài tập (theo chương trình chuẩn và chương trình nâng cao)
Bước 4: Luyện thi trực tuyến

Từ bước 1 tới bước 3 rất quan trọng. Việc học kiến thức trong sách giáo khoa và luyện tập từ sách bài tập giúp các bạn tích lũy kiến thức căn bản, xây dựng nên tảng để luyện thi tại bước 4. Vì vậy, nếu chưa hoàn thành bài tập trong sách giáo khoa và sách bài tập thì chưa nên luyện thi vội.

Vật lí và Toán có mỗi liên hệ mật thiết với nhau. Để có thể thành thạo kĩ năng làm bài trắc nghiệm Vật lí, học sinh cần phải nắm vững các kiến thức về lượng giác, hình học, số học... và đặc biệt là kĩ năng sử dụng máy tính. Nếu hiểu được bản chất vật lí và nắm vững được các kiến thức Toán học, các câu hỏi trắc nghiệm vật lí chỉ là sự vận dụng linh hoạt giữa các công thức toán học kết hợp với suy luận logic để tìm ra đáp án chính xác.

Thầy Nguyễn Hoàng Kim - Nguyên là giáo viên trường THPT Chuyên Hà Nội Amsterdam, là tác giả của nhiều đầu sách ôn thi đại học Vật lí chất lượng

Nguồn Sưu tầm