A. Máy Tính fx 500MS
1. Nâng cấp máy tính fx500MS thành fx570MS
http://www.youtube.com/watch?v=AEJQykoRBhY
B. Máy tính fx 570MS
1. Máy tính Casio fx-570MS dùng lệnh SOLVE như thế nào?
http://www.youtube.com/watch?v=xrls8KpG-oQ
2. Máy tính Casio fx 570MS tính tổng trong một khoảng như thế nào?
http://www.youtube.com/watch?v=rEejmAHuT2A
3. Máy tính Casio fx-570MS dùng lệnh CALC như thế nào?
http://www.youtube.com/watch?v=KuvXkvhWCk0
C. Máy tính fx 570ES Plus và fx 570ES
1. Tìm cặp số nguyên dương nhỏ nhất trên máy tính Casio fx 570ES PLUS
http://www.youtube.com/watch?v=zkHoGVAPWkw
2. Tìm phép chia có dư trên máy tính Casio fx 570ES PLUS
http://www.youtube.com/watch?v=qcHpGr5fwLQ
3. Tính tổng của dãy số trên máy tính Casio fx 570 ES PLUS
http://www.youtube.com/watch?v=pfxn7eM7UZw
4. Tính tổng dãy số mà không dùng phép lặp trên máy tính Casio fx 570ES PLUS
http://www.youtube.com/watch?v=0eREVy4vZbc
5. Giải phương trình lượng giác trên máy tính Casio fx 570ES PLUS
http://www.youtube.com/watch?v=xbVJ_cbUcuA
6. Giải phương trình bậc 2 trên máy tính Casio fx 570 ES Plus
http://www.youtube.com/watch?v=-OnGXI8Srvg
7. Tính logarit cơ số bất kì trên máy tính Casio fx 570ES PLUS
http://www.youtube.com/watch?v=QOb54ftpMjw
8. Tính đạo hàm bằng Casio fx-570ES
http://www.youtube.com/watch?v=xN6lxz09m4c
9. Giải toán thống kê trên CASIO fx-570ES
http://www.youtube.com/watch?v=ezGpvjiN-rM
10. Tính tích phân trên Casio fx-570ES
http://www.youtube.com/watch?v=YHbVI0nkvoc
11. Dùng Casio fx-570ES để chứng minh phương trình có nghiệm
http://www.youtube.com/watch?v=NNB-SE3sU1Q
12. Giải phương trình bậc nhất trên Casio fx-570ES
http://www.youtube.com/watch?v=d-c8wb2rUvc
13. Giải phương trình bậc 2 bằng Casio fx-570ES (nghiệm đẹp)
http://www.youtube.com/watch?v=hAnZaPEZNLc
14. Chuyển đổi cơ số bằng máy CASIO fx-570 ES
http://www.youtube.com/watch?v=9dT9X1U2fPo
D. Sử dụng máy tính cho các bài toán vật lý
1. Sử dụng máy tính fx 570ES Plus
để giải bài toán điện lý thuyết
http://www.youtube.com/watch?v=2Py7Kbpm0b8
2. Sử dụng máy tính
fx 570ES Plus
để giải bài toán điện xoay chiều
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=0eV0GYPnmLA
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=6Lm5a4v94s0
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=-S0HPFG-n20
Phần 4: http://www.youtube.com/watch?v=rpSFnuwuwUE
Phần 5: http://www.youtube.com/watch?v=1mtXvGGtPm8
Phần 6: http://www.youtube.com/watch?v=fl7k7PNnnNI
3. Sử dụng máy tính fx 570ES Plus để giải bài toán hộp kín
http://www.youtube.com/watch?v=swU4uuJoYHA
Hiển thị các bài đăng có nhãn Toán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Toán. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013
Video - Luyện thi đại học môn Toán - Thầy Phan Huy Khải
Bài 1: Cực trị
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=11rI_rwz5YM
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=dbGdSwrxT-E
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=6MU49eRaZBk
Bài 4: Đồ thị hàm số vá các ứng dụng
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=TItLRTEQdZo
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=0cMVZ-opNZs
Phần 4: http://www.youtube.com/watch?v=DRAUv7sOJf0
Phần 5: http://www.youtube.com/watch?v=vn71sHYH_O0
Phần 6: http://www.youtube.com/watch?v=4D_subu-BUY
Phần 7: http://www.youtube.com/watch?v=WBP5J8HiWpw
Bài 5: Các bài toán về tiếp tuyến
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=2FuChmVvkEE
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=wLrEWfmiGEQ
Video các kĩ thuật chứng minh Bất đẳng thức và tìm giá trị lớn nhất và nhỏ nhất
http://www.vnmath.com/2012/10/video-cac-ki-thuat-chung-minh-bat-ang.html
Video chuyên đề phương trình đường thẳng và mặt phẳng trong không gian
http://www.vnmath.com/2012/10/video-chuyen-e-phuong-trinh-uong-thang.html
Cực trị là mảng kiến thức quan trọng trong các kì thi ĐH, đặc biệt các bài toán về cực trị đối với hàm đa thức, phân thức là mảng kiến thức thường được sử dụng trong các bài toán phụ sau khảo sát hàm số.
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=Lgra_Hk0jXoPhần 2: http://www.youtube.com/watch?v=11rI_rwz5YM
Bài 2: Sự tương giao của hàm số
Bài giảng trình bày về các bài toán cơ bản về sự trương giao mà phần lớn là trình bày các bài toán có mặt trong các kỳ thi tuyển sinh về môn toán vào các trường ĐH và CĐ. Đồng thời bài giảng cũng giới thiệu một số dạng khác các bài toán về sự tương giao mà chủ yêu là các dạng khác nhau có thể quy về bài toán tương giao.
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=tRdHvAdEAY4Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=dbGdSwrxT-E
Bài 3: Giới hạn của hàm số
Tiết giảng xoay quanh các dạng về giới hạn 0/0 thường gặp và phương pháp giải chúng.
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=HwL3EPZJsKkPhần 2: http://www.youtube.com/watch?v=6MU49eRaZBk
Bài 4: Đồ thị hàm số vá các ứng dụng
Hàm số là phần quan trọng trong chương trình THPT nói chung và các kì thi ĐH nói riêng. Hàm số có nhiều ứng dụng không chỉ trong chuyên đề này mà còn có nhiều ứng dụng trong các chuyên đề khác, như “Chuyên đề Phương trình, bất phương trình, hệ phương trình đại số”, hay “Chuyên đề chứng minh bất đẳng thức”. Bài giảng này sẽ hệ thống cho các em toàn bộ các dạng toán thường gặp nhất trong chương trình toán THPT.
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=bzKupxt4r-APhần 2: http://www.youtube.com/watch?v=TItLRTEQdZo
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=0cMVZ-opNZs
Phần 4: http://www.youtube.com/watch?v=DRAUv7sOJf0
Phần 5: http://www.youtube.com/watch?v=vn71sHYH_O0
Phần 6: http://www.youtube.com/watch?v=4D_subu-BUY
Phần 7: http://www.youtube.com/watch?v=WBP5J8HiWpw
Bài 5: Các bài toán về tiếp tuyến
Các bài toán về tiếp tuyến là dạng toán quen thuộc và thường xuyên có mặt trong các kỳ thi ĐH, CĐ hàng năm. Khi xét các bài toán về tiếp tuyến, chúng ta thường xét ba dạng bài toán cơ bản:
-Tiếp tuyến tại một điểm
-Tiếp tuyến đi qua một điểm
-Các bài toán về tiếp tuyến khác.
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=U3m6zpIj66Y-Tiếp tuyến tại một điểm
-Tiếp tuyến đi qua một điểm
-Các bài toán về tiếp tuyến khác.
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=2FuChmVvkEE
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=wLrEWfmiGEQ
Video các kĩ thuật chứng minh Bất đẳng thức và tìm giá trị lớn nhất và nhỏ nhất
http://www.vnmath.com/2012/10/video-cac-ki-thuat-chung-minh-bat-ang.html
Video chuyên đề phương trình đường thẳng và mặt phẳng trong không gian
http://www.vnmath.com/2012/10/video-chuyen-e-phuong-trinh-uong-thang.html
Video các dạng phương trình chứa tham số
http://www.vnmath.com/2012/10/video-cac-dang-phuong-trinh-chua-tham.html
Video Hệ Phương trình
http://www.vnmath.com/2012/10/video-he-phuong-trinh-luyen-thi-ai-hoc.html
Video Các dạng phương trình, hệ pt chứa căn
http://www.vnmath.com/2012/10/video-cac-dang-phuong-trinh-he-pt-chua.html
Bài toán Tiếp tuyến hàm đa thức
http://www.vnmath.com/2012/10/video-bai-toan-tiep-tuyen-ham-thuc-phan.html
Video Bài toán với cực trị hàm đa thức
http://www.vnmath.com/2012/10/video-bai-toan-voi-cuc-tri-ham-thuc-cua.html
Video Bài toán Thể tích khối đa diện
http://www.vnmath.com/2012/10/video-bai-toan-tich-khoi-dien-phan-huy.html
Video Bài giảng Quan hệ vuông góc trong không gian
http://www.vnmath.com/2012/10/video-bai-giang-quan-he-vuong-goc-trong.html
Video bài giảng phương trình lượng giác
http://www.vnmath.com/2012/10/video-bai-giang-phuong-trinh-luong-giac.html
Video - Luyện thi đại học môn Toán - Thầy Quách Văn Giang
Bài 1: Bất đẳng thức Bunhiacopxki
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=Im9GG5BXZzs
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=0SoV3xl7A_w
Bài 2: Bất đẳng thức Cauchy và ứng dụng
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=uv2DPuOFzWI
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=8awn9bPa2Jw
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=dkHObRtyQ0Y
Phần 4: http://www.youtube.com/watch?v=IPlMhMynpkU
Bài 3: Một số dạng toán về diện tích hình phẳng liên quan đến hàm số phụ thuộc tham số
http://www.youtube.com/watch?v=W8pV2Yc7QZM
Bài 4: Đường thẳng và mặt phẳng trong không gian
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=bExmljaoyGg
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=HctnJ-Vejok
Bài 5: Mặt cầu giải tích
http://www.youtube.com/watch?v=TRIUlI9Rl_o
Bài 6: Các bài toán về khoảng cách
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=06z_y_1yL0g
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=xtu8oQlGM9U
Bài 7: Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=UsAS8Q765cU
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=79zqYQj82k0
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=7pxS6rmoMw8
Phần 4: http://www.youtube.com/watch?v=4ECfymbsXcY
Phần 5: http://www.youtube.com/watch?v=6kzzpUWa60k
Phần 6: http://www.youtube.com/watch?v=TJH8-ihUqMo
Phần 7: http://www.youtube.com/watch?v=TyT5t6WjIi8
Phần 8: http://www.youtube.com/watch?v=DxEBKsAKRh8
Bài 8: Tính góc và cực trị trong không gian tọa độ
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=i5Jj-GV8rXk
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=_P76GnTbr-s
Bài 9: Ứng dụng hình học giải tích để giải các bài toán hình học không gian
http://www.youtube.com/watch?v=XvapF0FbeoA
Bài 10: Tính diện tích và thể tích bằng phương pháp tọa độ
http://www.youtube.com/watch?v=SYD20Q_jx1c
Bài 11: Cực trị thể tích trong không gian
http://www.youtube.com/watch?v=Y8bxEBlnUgs
Bài 12: Bài toán chia khối đa diện
http://www.youtube.com/watch?v=hZBrtj9fxQ4
Bài 13: Thể tích hình lăng trụ
http://www.youtube.com/watch?v=Nx_guWPRCU4
Bài 14: Thể tích hình chóp
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=cwakh5W-eyg
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=U5lNvijtTF8
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=db5w7P-7jd0
Bài 15: Các bài toán về xác suất
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=uzakXQjYO1Y
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=X3r0cZjZ_n0
Bài 16: Tổ hợp xác suất & nhị thức Newton
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=xtjXB2Hbw5g
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=9uwTnWcPxL0
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=72r0XdXXt6E
Phần 4: http://www.youtube.com/watch?v=S0jCLZaxQUQ
Phần 5: http://www.youtube.com/watch?v=Ls8Vzh09ImQ
Bài 17: GTLN, GTNN của hàm số phụ thuộc tham số
http://www.youtube.com/watch?v=ojde3Q8GweA
Bài 18: Giải bài toán cực trị bằng phương pháp chiều biến thiên của hàm số
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=Y4a3UoSt-a4
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=dwIFfWOwReA
Bài 19: Một số dạng bài tập giải bằng phương pháp cần và đủ
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=wyA8ws8RL2M
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=exA7at2l6dM
Bài 20: Giải phương trình lượng giác đưa về dạng tíchPhần 1: http://www.youtube.com/watch?v=Yls2b4SJoeY
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=Biu_GAvSgj4
Bài 21: Giải phương trình lượng giác bằng phương pháp đặt ẩn phụ
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=29TfX-qnXJY
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=Hs6ZIrvRvUM
Bài 22: Giải phương trình lượng giác không chính tắc
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=WlSKRjYYpOg
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=0RiYFq4v9mE
Bài 23: Giải phương trình siêu việt dạng không chính tắc
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=99Od003eurU
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=dAo9l0FDdrE
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=Im9GG5BXZzs
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=0SoV3xl7A_w
Bài 2: Bất đẳng thức Cauchy và ứng dụng
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=uv2DPuOFzWI
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=8awn9bPa2Jw
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=dkHObRtyQ0Y
Phần 4: http://www.youtube.com/watch?v=IPlMhMynpkU
Bài 3: Một số dạng toán về diện tích hình phẳng liên quan đến hàm số phụ thuộc tham số
http://www.youtube.com/watch?v=W8pV2Yc7QZM
Bài 4: Đường thẳng và mặt phẳng trong không gian
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=bExmljaoyGg
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=HctnJ-Vejok
Bài 5: Mặt cầu giải tích
http://www.youtube.com/watch?v=TRIUlI9Rl_o
Bài 6: Các bài toán về khoảng cách
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=06z_y_1yL0g
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=xtu8oQlGM9U
Bài 7: Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=UsAS8Q765cU
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=79zqYQj82k0
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=7pxS6rmoMw8
Phần 4: http://www.youtube.com/watch?v=4ECfymbsXcY
Phần 5: http://www.youtube.com/watch?v=6kzzpUWa60k
Phần 6: http://www.youtube.com/watch?v=TJH8-ihUqMo
Phần 7: http://www.youtube.com/watch?v=TyT5t6WjIi8
Phần 8: http://www.youtube.com/watch?v=DxEBKsAKRh8
Bài 8: Tính góc và cực trị trong không gian tọa độ
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=i5Jj-GV8rXk
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=_P76GnTbr-s
Bài 9: Ứng dụng hình học giải tích để giải các bài toán hình học không gian
http://www.youtube.com/watch?v=XvapF0FbeoA
Bài 10: Tính diện tích và thể tích bằng phương pháp tọa độ
http://www.youtube.com/watch?v=SYD20Q_jx1c
Bài 11: Cực trị thể tích trong không gian
http://www.youtube.com/watch?v=Y8bxEBlnUgs
Bài 12: Bài toán chia khối đa diện
http://www.youtube.com/watch?v=hZBrtj9fxQ4
Bài 13: Thể tích hình lăng trụ
http://www.youtube.com/watch?v=Nx_guWPRCU4
Bài 14: Thể tích hình chóp
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=cwakh5W-eyg
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=U5lNvijtTF8
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=db5w7P-7jd0
Bài 15: Các bài toán về xác suất
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=uzakXQjYO1Y
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=X3r0cZjZ_n0
Bài 16: Tổ hợp xác suất & nhị thức Newton
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=xtjXB2Hbw5g
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=9uwTnWcPxL0
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=72r0XdXXt6E
Phần 4: http://www.youtube.com/watch?v=S0jCLZaxQUQ
Phần 5: http://www.youtube.com/watch?v=Ls8Vzh09ImQ
Bài 17: GTLN, GTNN của hàm số phụ thuộc tham số
http://www.youtube.com/watch?v=ojde3Q8GweA
Bài 18: Giải bài toán cực trị bằng phương pháp chiều biến thiên của hàm số
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=Y4a3UoSt-a4
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=dwIFfWOwReA
Bài 19: Một số dạng bài tập giải bằng phương pháp cần và đủ
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=wyA8ws8RL2M
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=exA7at2l6dM
Bài 20: Giải phương trình lượng giác đưa về dạng tíchPhần 1: http://www.youtube.com/watch?v=Yls2b4SJoeY
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=Biu_GAvSgj4
Bài 21: Giải phương trình lượng giác bằng phương pháp đặt ẩn phụ
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=29TfX-qnXJY
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=Hs6ZIrvRvUM
Bài 22: Giải phương trình lượng giác không chính tắc
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=WlSKRjYYpOg
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=0RiYFq4v9mE
Bài 23: Giải phương trình siêu việt dạng không chính tắc
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=99Od003eurU
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=dAo9l0FDdrE
Video - Luyện thi đại học môn Toán - Thầy Nguyễn Xuân Huy
Bài 1: Bảng nguyên hàm tính tích phân
Thông thường trong rất nhiều các đề thi Tốt nghiệp THPT, đề thi Cao đẳng, Đại học thường xuất hiện các bài toán tính phân mà học sinh có thể sử dụng phương pháp dùng bảng nguyên hàm để giải một cách ngắn gọn nhất. Để vận dụng được phương pháp này, học sinh cần nắm chắc bảng các nguyên hàm cơ bản đã có trong SGK và một chút tinh ý để phát hiện ra các dạng nguyên hàm cơ bản đó.
http://www.youtube.com/watch?v=-MwWX4QhGUU
Bài 2: Các kỹ thuật tính tích phân
Về mặt phương pháp luận thì các cách giải toán tích phân sau đây không phải là một phương pháp tính, mà nó chỉ mang tính chất là một kỹ thuật tính, hay kỹ thuật biến đổi, giúp chúng ta chuyển một tích phân phức tạp (chính tắc hoặc không chính tắc) về dạng đơn giản hơn (dạng chính tắc).
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=7mBZ2PuxcSUPhần 2: http://www.youtube.com/watch?v=2y1l284BP8U
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=VEaOQ_nBBlU
Phần 4: http://www.youtube.com/watch?v=eBfdDyHhWSo
Bài 3: Phương pháp tính tích phân từng phần
Tích phân từng phần là một trong những phương pháp tính tích phân cơ bản trong chương trình THPT, và có tính ứng dụng cao. Đối với các bài toán sử dụng phương pháp tích phân từng phần, thông thường có một lớp các bài toán cơ bản có cách giải riêng, còn đối với các bài toán không ở dạng cơ bản, ngoài việc sử dụng công thức cơ bản, điều quan trọng nhất học sinh phải chọn được hàm u, v thích hợp
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=k6g8Dm3U_lUPhần 2: http://www.youtube.com/watch?v=JXs5wb2dwHo
Bài 4: Phương pháp đổi biến số tính tích phân
Về mặt bản chất đây là một trong các phương pháp tính tích phân cơ bản nhất, việc đổi biến về bản chất là đưa một tích phân phức tạp về một tích phân đơn giản hơn. Phương pháp này thường áp dụng khi ta không tính được nguyên hàm của hàm số dưới dấu tích phân.
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=mSDDQX6hiCQPhần 2: http://www.youtube.com/watch?v=5OFx36SzG_s
Bài 5: Ứng dụng của tích phân
Bài giảng cung cấp một số ứng dụng cơ bản của tích phân:
Ứng dụng của tích phân tính diện tích hình phẳng
Ứng dụng của tích phân tính thể tích vật tròn xoay
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=4b5URVZpprYỨng dụng của tích phân tính diện tích hình phẳng
Ứng dụng của tích phân tính thể tích vật tròn xoay
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=ZFFTcM6A0Sw
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=wtw0svpqixc
Bài 6: Phương pháp đạt điểm tối đa câu hàm số
Đối với câu hỏi 1 nội dung dành riêng cho hàm số được 2 điểm. Trong phần này câu hỏi khá rõ ràng, gồm hai ý:
- Ý 1: Khảo sát và vẽ đồ thị hàm số
- Ý 2: Các bài toán ứng dụng
Thông thường trong các đề thi trong những năm vừa qua bài toán ứng dụng thường gắn với hàm số đã khảo sát. Trong ý 1 chúng ta có ba hàm được sử dụng đó là: hàm phân số bậc nhất; hàm bậc ba, hàm trùng phương. Còn hàm bậc 2/ bậc 1 được chuyển xuống câu số 7.
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=umqvUL_WIKI- Ý 1: Khảo sát và vẽ đồ thị hàm số
- Ý 2: Các bài toán ứng dụng
Thông thường trong các đề thi trong những năm vừa qua bài toán ứng dụng thường gắn với hàm số đã khảo sát. Trong ý 1 chúng ta có ba hàm được sử dụng đó là: hàm phân số bậc nhất; hàm bậc ba, hàm trùng phương. Còn hàm bậc 2/ bậc 1 được chuyển xuống câu số 7.
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=Ic2YOLu3CE4
Bài 7: Tâm đối xứng của đồ thị hàm số
Bài giảng này nghiên cứu và giới thiệu đến các em ba vấn đề chính cũng là ba vấn đề thường xuyên xuất hiện trong các câu hỏi khi học về chuyên đề hàm số:
Tâm đối xứng của hai điểm
Khi nào điểm I được gọi là tâm đối xứng của đồ thị, phương pháp chứng minh điểm đó là tâm đối xứng
Cho đồ thị (C) ứng với hàm số f, tìm đồ thị (C’) ứng với hàm số g sao cho f, g đối xứng với nhau qua điểm I cho trước
http://www.youtube.com/watch?v=9V3G6xbg5TkTâm đối xứng của hai điểm
Khi nào điểm I được gọi là tâm đối xứng của đồ thị, phương pháp chứng minh điểm đó là tâm đối xứng
Cho đồ thị (C) ứng với hàm số f, tìm đồ thị (C’) ứng với hàm số g sao cho f, g đối xứng với nhau qua điểm I cho trước
Bài 8: Bài toán về trục đối xứng của đồ thị hàm số
Nghiên cứu về trục đối xứng của đồ thị hàm số, chúng ta mới hiểu rõ được thế nào là trục đối xứng của hai điểm, thế nào là trục đối xứng của một đồ thị, khi nào thì hai đồ thị đối xứng nhau qua một đường thẳng. Các bài toán về trục đối xứng , tâm đối xứng là một bài toán hay, đặc biệt gắn kết với bài toán tương giao của một đường thẳng cắt đường cong.
Khi vận dụng bài toán về trục đối xứng chúng ta có thể giải quyết được một lớp các bài toán về phương trình bậc bốn đầy đủ bằng cách đưa phương trình bậc bốn về dạng trùng phương. Thông qua việc xác định trục đối xứng của nó.
http://www.youtube.com/watch?v=kK8MaMaISKYKhi vận dụng bài toán về trục đối xứng chúng ta có thể giải quyết được một lớp các bài toán về phương trình bậc bốn đầy đủ bằng cách đưa phương trình bậc bốn về dạng trùng phương. Thông qua việc xác định trục đối xứng của nó.
Bài 9: Bài Toán về khoảng cách trong hàm số
Trong hàm số có rất nhiều bài toán vận dụng lý thuyết về khoảng cách, như: Khoảng cách về hai điểm, khoảng cách giữa một đường thẳng và một đường cong. Các bài toán về hàm số rất rộng, tuy nhiên có một nhánh các bài toán về khoảng cách là một lớp những bài toán hay và khó. Trong bài giảng này, giúp các em hiểu sâu hơn về bài toán khoảng cách trong các bài toán về hàm số.
http://www.youtube.com/watch?v=7uWQqY4VB10
Bài 10: Các phép toán về số phức
Khi giải phương trình bậc hai trên trường số thực R, đôi khi chúng ta gặp những trường hợp phương trình không có nghiệm. Sự xuất hiện của trường số phức C sẽ giải quyết những trường hợp đó, và chỉ có trường số phức mới có khái niệm số ảo. Tuy nhiên, trong giới hạn chương trình Toán THPT, số phức mới chỉ dừng lại ở những phép toán cơ bản về trường số phức, và giải những phương trình cơ bản. Bài giảng này làm sáng tỏ những kiến thức cơ bản nhất về số phức.
http://www.youtube.com/watch?v=SegN_5eIwg8
Bài 11: Module và sự biểu diễn hình học của số phức
Bài giảng này nghiên cứu hai nội dung sau:
Các tính chất về module, các bài toán về module số phức và sự biểu diễn hình học của module số phức.
Sự kết hợp giữa đại số và hình học được thể hiện trong số phức.
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=QCuVvH7GX_wCác tính chất về module, các bài toán về module số phức và sự biểu diễn hình học của module số phức.
Sự kết hợp giữa đại số và hình học được thể hiện trong số phức.
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=-W97J9rReaY
Bài 12: Dạng lượng giác của số phức
Để nghiên cứu về số phức thông thường người ta tiếp cận theo 3 hướng:
Hướng 1: Tiếp cận số phức theo dạng đại số
Hướng 2: Tiếp cận số phức thông qua biểu diễn hình học của chúng
Hướng 3: Tiếp cận số phức dưới dạng biểu diễn lượng giác
Trong bài giảng này, chúng ta sẽ nghiên cứu biểu diễn lượng giác của số phức. Qua đây, chúng ta có thể thấy được mối liên hệ của số phức với lượng giác. Đây cũng là phần kiến thức quan trọng, dễ gặp trong các kì thi tuyển sinh.
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=flDMRCXgqlcHướng 1: Tiếp cận số phức theo dạng đại số
Hướng 2: Tiếp cận số phức thông qua biểu diễn hình học của chúng
Hướng 3: Tiếp cận số phức dưới dạng biểu diễn lượng giác
Trong bài giảng này, chúng ta sẽ nghiên cứu biểu diễn lượng giác của số phức. Qua đây, chúng ta có thể thấy được mối liên hệ của số phức với lượng giác. Đây cũng là phần kiến thức quan trọng, dễ gặp trong các kì thi tuyển sinh.
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=XgRXBAXvYPQ
Bài 13: Phương trình trên trường số phức
Trên trường số thực khi giải phương trình bậc hai đôi khi chúng ta gặp phải những phương trình vô nghiệm. Tuy nhiên trên thực tế, khi mở rộng sang trường số phức thì những phương trình như thế vẫn có nghiệm. Trên trường này, tất cả các phương trình bậc 2 luôn luôn có nghiệm. Bài giảng này, nghiên cứu căn bậc hai của số phức, phương trình bậc hai và phương trình quy về bậc 2 trên trường số phức.
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=8GuSiTKkqV4Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=UEQ-OY2lyho
Bài 14: Sự phối hợp giữa các đường đặc biệt trong tam giác
Trong những năm gần đây, các đề thi có rất nhiều bài toán về hình học phẳng, thường nhấn mạnh hỏi các yếu tố trong một tam giác, đặc biệt là các bài toán liên quan đến các yếu tố trong tam giác, tìm tọa độ của đỉnh, viết phương trình của các đường thẳng, phương trình các cạnh và các đường đặc biệt trong tam giác. Bên cạnh đó còn là các yếu tố về quan hệ giữa các đường trong tam giác, như: Quan hệ của đường cao, ta liên tưởng đến các yếu tố về trực tâm. Quan hệ của đường trung tuyến, ta liên tưởng đến các yếu tố về trọng tâm. Quan hệ về đường phân giác trong, ta liên tưởng tới tâm đường tròn nội tiếp tam giác. Quan hệ của các đường trung trực của tam giác, ta liên hệ đến tâm đường tròn ngoại tiếp tam giác. Hay các đường trung bình của tam giác, ta thường gặp các bài toán liên quan đến viết phương trình đường thẳng cách đều các đỉnh của một tam giác. Tất cả các yếu tố trên là vấn đề rất quan trọng đã được sử dụng thường xuyên trong các đề thi trong những năm vừa qua. Đây cũng là một trong những nội dung dễ và học sinh thường đạt được điểm tối đa.
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=tP6z5fQyWNEPhần 2: http://www.youtube.com/watch?v=5a2NWkx6kWk
Bài 15: Các bài toán về hình vuông
Hình học phẳng là một nội dung bắt buộc trong đề thi Đại học, Cao đẳng. Trong hình học phẳng các đơn vị kiến thức thường xuyên được sử dụng, bao gồm các dạng toán về đường thẳng có kết hợp các yếu tố trong tam giác, các bài toán về đường tròn, các bài toán về Conic. Trong những năm gần đây, các chuyên đề chính được thi thường tập trung vào hai đơn vị kiến thức chính đó là: Các bài toán về đường thẳng và đường tròn. Tuy nhiên, có đến 70% các bài toán đã thi liên quan đến các bài toán về đường thẳng và các mối quan hệ của điểm với đường thẳng.
Trong các bài toán về đường thẳng lại có các đơn vị kiến thức chính tập trung đó là các bài toán liên quan đến điểm, các đường đặc biệt trong tam giác cũng như các bài toán về các khổi hình đặc biệt như hình vuông, hình chữ nhật,…
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=GIW7fJ3MbPUTrong các bài toán về đường thẳng lại có các đơn vị kiến thức chính tập trung đó là các bài toán liên quan đến điểm, các đường đặc biệt trong tam giác cũng như các bài toán về các khổi hình đặc biệt như hình vuông, hình chữ nhật,…
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=NRs62QBbCUk
Bài 16: Phương trình mũ
Để giải phương trình mũ, yếu tố về giải phương trình chúng ta phải nắm chắc. Phương trình mũ chỉ là sự kết hợp giữa phương trình đại số và hàm số mũ. Khi kết hợp được hai yếu tố này, chúng ta sẽ giải quyết được hầu hết các dạng phương trình mũ.
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=n95Xzc0jXa0Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=Vs-ZElc-y-g
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=6f1LF_eMEW0
Phần 4: http://www.youtube.com/watch?v=HIo5-1nUED8
Bài 17: Phương trình logarit
Phương trình logarit thường nằm trong câu tự chọn của đề thi đại học hoặc nằm ở câu số 5 là câu tổng hợp, hoặc cũng có thể nằm ở câu hỏi về hệ phương trình siêu việt. Do vậy kiến thức để giải hệ phương trình logarit rất quan trọng. Bài giảng này ôn tập và củng cố cho các em các kiến thức liên quan về phương trình logarit, đồng thời cũng là nền tảng để chúng ta có thể tiếp xúc với bất phương trình logarit.
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=mFH7WUYteSAPhần 2: http://www.youtube.com/watch?v=nbM2SMc3o2E
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=qtfa_fbOPjs
Bài 18: Phương trình vô tỷ
Khi nghiên cứu về phương trình vô tỷ, các em học sinh có rất nhiều các tiếp cận, tuy nhiên, qua kinh nghiệm nhiều năm luyện thi ĐH, các thầy cô giáo trong tổ giáo viên của chương trình thống nhất lựa chọn hướng tiếp cận về phương trình vô tỷ theo một cấu trúc về phương pháp giải gắn với dạng toán. Đây là hướng tiếp cận gần gũi nhất với học sinh, giúp các em tiếp cận bài toán theo hướng tự nhiên nhất mà không phải tuân theo một “chìa khoá” bắt buộc nào.
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=RLavsj_yBgUPhần 2: http://www.youtube.com/watch?v=rtPD_P9rEGw
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=wO_ek6rdtok
Bài 19: Hệ phương trình siêu việt
Hệ phương trình siêu việt là một trong những bài toán thường gặp trong các kì thi tuyển sinh. Để giải quyết được những dạng toán thuộc loại này, ngoài yêu cầu học sinh phải nắm vững các kiến thức về hàm số siêu việt, mà còn phải nắm chắc các phương pháp giải của hệ đại số, các kiến thức về hàm số. Bài giảng này sẽ ôn tập và củng cố cho các em về loại hệ siêu việt, từ các dạng cơ bản đến những loại hệ phức tạp đòi hỏi phương pháp giải riêng.
http://www.youtube.com/watch?v=CG38fV9PR8w
Bài 20: Hệ phương trình đại số
Trong các đề thi Đại học, chúng ta thường gặp các dạng hệ phương trình khác nhau. Tuy nhiên, sau một vài bước biến đổi, ta sẽ đưa về dạng hệ phương trình mà ta đã gặp. Thông thường hệ phương trình đại số là một trong những loại hệ dễ đạt điểm tối đa nhất.
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=8v1irNlUkUsPhần 2: http://www.youtube.com/watch?v=JSL7o9hcTE4
Bài 21: Ứng dụng hệ phương trình để tìm GTLN, GTNN
Tìm GTLN, GTNN là một trong những kiến thức khó và học sinh thường bỏ qua, bởi vì kiến thức của nó khá rộng có thể vận dụng các kiến thức về bất đẳng thức, cũng có thể vận dụng các kiến thức trong hình học, cũng có thể phải sử dụng tính chất hàm trong giải tích.
Ngoài phương pháp bất đẳng thức, phương pháp khảo sát hàm số hay phương pháp vận dụng hình học để tìm GTLN, GTNN của biểu thức, bài giảng còn cung cấp cho các em thêm một cách giải liên quan đến các kiến thức rất quen thuộc, đơn giản trong phần đại số các em đã được học, đó là các kiến thức về hệ: Hệ bậc nhất hai ẩn, sử dụng định thức để giải, hoặc hệ đối xứng loại 1, hệ đẳng cấp…
http://www.youtube.com/watch?v=tPl5CpAX9nsNgoài phương pháp bất đẳng thức, phương pháp khảo sát hàm số hay phương pháp vận dụng hình học để tìm GTLN, GTNN của biểu thức, bài giảng còn cung cấp cho các em thêm một cách giải liên quan đến các kiến thức rất quen thuộc, đơn giản trong phần đại số các em đã được học, đó là các kiến thức về hệ: Hệ bậc nhất hai ẩn, sử dụng định thức để giải, hoặc hệ đối xứng loại 1, hệ đẳng cấp…
Bài 22: Bất phương trình mũ
Với khung chương trình của Bộ và cách xây dựng theo những câu hỏi hiện nay, thì ngoài việc bất phương trình mũ có thể nằm ở trong câu tự chọn còn có thể nằm ở trong câu tổng hợp của đề thi tuyển sinh. Hơn nữa trong nhiều trường hợp, bất phương trình mũ còn lồng trong bất phương trình logarit hoặc bất phương trình vô tỷ mà chũng ta thường gặp.
Để giải được bất phương trình nói chung, chúng ta phải nắm được các kỹ năng về các phep biến đổi tương đương, riêng đối với bất phương trình mũ chúng ta còn cần phải nắm chắc được sự kết hợp giữa bất phương trình đại số và tính đơn điệu của phương trình mũ.
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=PN4tWju5ksIĐể giải được bất phương trình nói chung, chúng ta phải nắm được các kỹ năng về các phep biến đổi tương đương, riêng đối với bất phương trình mũ chúng ta còn cần phải nắm chắc được sự kết hợp giữa bất phương trình đại số và tính đơn điệu của phương trình mũ.
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=Cc_T3igXay4
Bài 23: Bất phương trình logarit
Đối với bất phương trình nói chung, chúng ta thường vận dụng các phép toán về dấu. Đối với bất phương trình logarit cũng vậy ngoài việc xét các miền để cho hàm số đồng biến nghịch biến, thì trong từng miền đồng biến, nghịch biến dấu của hàm logarit cũng thay đổi. Để giải phương trình logarit được thành thạo thì chúng ta phải kết hợp nhuần nhuyễn của giải phương trình đại số với giải phương trình logarit cộng với tính chất về dấu của phương trình logarit.
http://www.youtube.com/watch?v=ueH2BaO4VC8
Bài 24: Bất phương trình vô tỷ
Bất phương trình vô tỷ là một trong những kiến thức đại số cơ bản và học sinh có thể dễ dàng giải quyết được. Nó cũng thường xuyên xuất hiện trong các kì thi Đại Học, Cao đẳng hàng năm.
Bài giảng “Bất phương trình vô tỷ” giới thiệu cho các em tất cả các dạng thường gặp nhất trong chương trình Trung học phổ thông, cũng như cung cấp các kỹ thuật giải quyết dạng toán này.
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=XH70deOGNPsBài giảng “Bất phương trình vô tỷ” giới thiệu cho các em tất cả các dạng thường gặp nhất trong chương trình Trung học phổ thông, cũng như cung cấp các kỹ thuật giải quyết dạng toán này.
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=hM98tdXHvSk
Thứ Bảy, 17 tháng 11, 2012
Thần đồng toán học Terence Tao
2 tuổi Terence Tao đã dạy toán và tiếng Anh cho cậu bé 5 tuổi. 13 tuổi, anh là người trẻ nhất cho đến nay giành huy chương vàng trong lịch sử các kỳ thi toán quốc tế. Năm 1992, khi mới 20 tuổi, anh nhận bằng tiến sĩ toán học.
Theo thông báo của Hội Toán học Mỹ số tháng 5/2010, Terence Tao (người Australia gốc Hoa) và Enrico Bombieri (người Italia) cùng được trao giải thưởng năm 2010 của Quỹ Vua Faisal với số tiền thưởng chung xấp xỉ 200.000 USD. Giải thưởng khoa học này luân phiên dành cho các lĩnh vực toán học, hóa học, vật lý và sinh học.
Cả hai nhà toán học này trước đó đều đã được trao giải thưởng Fields, giải thưởng cao quý nhất trên thế giới dành cho các nhà toán học đặc biệt xuất sắc chưa quá tuổi 40 (người ta thường ví như giải Nobel dành cho toán học).
Terence Tao đã bộc lộ năng lực toán học đặc biệt từ khi còn nhỏ và vì thế người ta gọi anh là thần đồng toán học, còn giáo sư John Garnett của ĐH Los Angeles, California (Mỹ) thì gọi anh là “Mozart của toán học”.
Sinh ngày 17/7/1975 tại Adelaide (Australia), bố mẹ đều là người Hoa, nhập cư từ Hong Kong vào Australia. Bố là bác sĩ nhi khoa, mẹ nhận bằng cử nhân tại ĐH Hong Kong và từng là giáo viên toán bậc trung học phổ thông.
Bố anh kể nhờ xem các chương trình truyền hình Sesame Street, Tao biết số và chữ. Trong một cuộc gặp mặt gia đình khi mới 2 tuổi, Tao đã dạy toán và tiếng Anh cho một cậu bé 5 tuổi.
Nữ giáo sư Miraca Gross, một chuyên gia nghiên cứu về giáo dục tài năng tại ĐH New South Wales (Australia), đã viết hẳn một bản luận văn về Tao. Trong đó bà nhắc lại một kỷ niệm đáng nhớ của Tao khi chưa đầy 4 tuổi: “Cậu bé làm nhẩm trong đầu phép tính nhân các số có 2 chữ số, trong khi tôi một người đến để phỏng vấn cậu ấy, lại cần đến bút và giấy để kiểm tra lại kết quả".
Bố của Terence Tao, ông Billy Tao, nói: “Nếu bạn chỉ nhanh chóng đi lên như một cái cột thì chắc chắn sẽ bị lung lay ở trên đỉnh và rồi đổ sụp xuống. Tôi có một mô hình kim tự tháp tri thức, với một cái nền rộng và sau đó kim tự tháp có thể lên cao hơn". Và Billy Tao đã sắp xếp cho các giáo sư toán học làm thầy dạy con mình. Nhờ đó mà Terence Tao đã có một sự nghiệp tuyệt vời.
Khi lên 8 tuổi Tao đã đạt 760 (trên 800) điểm môn Toán khi thi SAT và là một trong hai đứa trẻ duy nhất đạt trên 700 điểm trong lịch sử của chương trình nghiên cứu tài năng đặc biệt của Johns Hopkins. Từ năm lên 9 tuổi anh đã theo học các bài giảng toán học ở bậc đại học.
Năm 1986, khi mới 10 tuổi, lần đầu tiên anh đã tham dự kỳ thi vô địch toán quốc tế (IMO) và liên tục trong 3 năm 1986-1988 anh đều tham gia cuộc thi toán nổi tiếng nhất thế giới này dành cho học sinh trung học phổ thông xuất sắc, giành được huy chương đồng, bạc và vàng.
Năm 13 tuổi, anh là người trẻ nhất cho đến nay giành huy chương vàng trong lịch sử IMO. Tao tốt nghiệp đại học, nhận bằng thạc sĩ tại ĐH Flinders (Australia) năm 17 tuổi. Năm 1992 anh giành được học bổng Fulbright để làm nghiên cứu sinh tại ĐH Princeton (Mỹ) và nhận bằng tiến sĩ khi mới 20 tuổi. Năm 24 tuổi anh được phong giáo sư thực thụ (full professor) của ĐH Los Angeles và là giáo sư trẻ nhất trong lịch sử của trường đại học này cho đến nay.
Tạp chí NewScientist ngày 22/8/2006 viết Terence Tao là nhà toán học trẻ nổi tiếng đến mức mà nhiều nhà toán học trên thế giới đều muốn lôi cuốn anh về bài toán của mình và anh trở thành một trong những ông thợ giải toán hợp tác đắc lực với các đồng nghiệp trên thế giới. Giáo sư C. L. Fefferman, người được nhận giải thưởng Fields, nói: “Nếu bạn bị bế tắc trong một bài toán, một trong những cách giải quyết là tìm cách lôi cuốn Terence Tao".
Anh nghiên cứu nhiều lĩnh vực của toán học như giải tích điều hòa, phương trình vi phân đạo hàm riêng, tổ hợp, lý thuyết số, xử lý tín hiệu. Năm 2004, Ben Green và Terence Tao công bố một tiền ấn phẩm chứng minh sự tồn tại của cấp số cộng có độ dài bất kỳ của các số nguyên tố và nhờ đó anh được trao huy chương của Hội Toán học Australia.
Năm 2006, khi mới 31 tuổi, tại đại hội toán học quốc tế lần thứ 25 ở Madrid, anh là một trong những người trẻ nhất, người Australia đầu tiên và là giáo sư đầu tiên của ĐH Los Angeles giành được giải thưởng Fields vì những đóng góp to lớn của anh cho lý thuyết phương trình đạo hàm riêng, tổ hợp, giải tích điều hòa và lý thuyết số cộng tích.
Tao hiện là viện sĩ của Viện Hàn lâm khoa học Hoàng gia Anh, Viện Hàn lâm khoa học Australia, Viện Hàn lâm khoa học và nghệ thuật Mỹ... Terence Tao đang sống với vợ người Hàn Quốc Laura Kim Tao và con trai William Kim Tao tại Los Angeles (Mỹ).
Điều lý thú là giáo sư Vũ Hà Văn, học sinh chuyên Toán Trường THPT Chu Văn An (Hà Nội), là một người bạn thân của Terence Tao. Hai người đã cùng công bố 15 bài báo khoa học và cuốn sách chuyên khảo Additive Combinatorics (Tổ hợp cộng tính) được giới toán học đánh giá cao. Giáo sư Vũ Hà Văn sinh tại Hà Nội năm 1970 và là con của nhà thơ Vũ Quần Phương.
Vũ Hà Văn được phong giáo sư của ĐH Rutgers (Mỹ), được trao giải thưởng cao quý Polya của Hội Toán học công nghiệp và ứng dụng Mỹ (SIAM) và được phong giáo sư Việt Nam năm 2009.
Grigory Perelman - Thiên tài lập dị (Người giải được bài toán Thiên niên kỷ và khước từ giải thưởng hàng triệu đô)
Giả thuyết Poincaré và Giả thuyết Hình học hóa của Thurston
Ngày 22 tháng 8 năm 2006 tại Đại hội các nhà Toán học Quốc tế tại Madrid, Tây Ban Nha, giải thưởng Fields đã được trao tặng cho Grigory Perelman vì những công trình của ông nhằm chứng minh Giả thuyết Poincaré và Giả thuyết Hình học hóa của Thurston.
Giả thuyết Poincaré do nhà toán học lỗi lạc người Pháp Henri Poincaré-người khai sinh ra ngành Topology-đề xướng năm 1904, nội dung như sau:
"Nếu một đa tạp ba chiều compắc không có biên là đơn liên, thì nó đồng phôi với mặt cầu ba chiều."
Nôm na một chút, hai không gian tôpô là đồng phôi nếu có một song ánh liên tục từ không gian này vào không gian kia sao cho ánh xạ ngược cũng liên tục, nghĩa là hai không gian giống như nhau về mặt tôpô. Một đa tạp ba chiều không có biên là một không gian tôpô mà mỗi điểm có một lân cận đồng phôi với một lân cận của không gian Euclide ba chiều R^3, nghĩa là về mặt địa phương một đa tạp ba chiều không khác gì R^3. Một không gian tôpô là đơn liên nếu mỗi đường cong đóng liên tục trên đó đều có thể được "thắt" một cách liên tục thành một điểm, nghĩa là nó đồng luân liên tục với một điểm, nói cách khác nhóm cơ bản của không gian chỉ chứa phần tử đơn vị.
Giả thuyết tổng quát hơn cho đa tạp n-chiều được gọi là Giả thuyết Poincaré mở rộng.
Trong trường hợp n=2 người ta đã biết từ lâu và không quá khó để chứng tỏ rằng mặt cầu hai chiều là mặt không biên compắc duy nhất mà là đơn liên. Những mặt xuyến là không đơn liên vì chúng có những "lỗ" và do đó có những đường cong đóng không thể thắt lại được.
Những cố gắng để nghiên cứu Giả thuyết Poincaré mở rộng đã dẫn đến những tiến bộ to lớn trong ngành Tôpô và trong Toán học nói chung.
Năm 1960 nhà toán học lớn người Mỹ Stephen Smale đã chứng minh Giả thuyết Poincaré mở rộng cho mọi n lớn hơn hay bằng 5. Công cụ chủ yếu của ông là Lý thuyết Morse trong Tôpô vi phân. Smale đưọc trao giải Fields năm 1966. (Smale là người tham gia tích cực vào phong trào chống chiến tranh Việt Nam, cách đây vài năm đã sang thăm Việt Nam.)
Mãi đến năm 1982 trường hợp n=4 mới được giải quyết nhờ công của nhà toán học Mỹ Michael Freedman. Công cụ của ông lại hoàn toàn là Tôpô Hình học, nghĩa là nói chung không sử dụng các cấu trúc vi phân hay đại số. Freedman cũng được trao giải thưởng Fields năm 1986.
Đóng góp to lớn vào những công trình nghiên cứu dẫn đến các kết quả này và những tiếng bộ sau đó phải kể đến John Milnor (giải Fields 1966), John Stallings, Papakyriapoulos, Sergey Novikov (giải Fields 1970), Robion Kirby, Simon Donaldson (giải Fields 1986) và nhiều người khác. Những phương pháp khác nhau đã được sử dụng: Tôpô vi phân, Tôpô đại số, Tôpô hình học, và cả những ý tưởng từ vật lí lí thuyết.
Vào khoảng những năm cuối thập kỉ 1970 nhà toán học Mỹ William Thurston có những quan sát theo một hướng mới. Ông nhận thấy là trong trường hợp hai chiều mặt cầu là mặt duy nhất mà trên đó có thể đặt hình học elliptic (tổng ba góc trong một tam giác lớn hẳn hơn 180 độ; hai đường thẳng bất kì đều cắt nhau; độ cong của mặt là hằng số dương), trên mặt xuyến một lỗ có hình học Euclide (tổng ba góc trong một tam giác bằng 180 độ; qua một điểm ở ngoài một đường thẳng chỉ có một đường thằng song song với đường thẳng đã cho; độ cong của mặt luôn luôn bằng không); với tất cả các mặt xuyến còn lại ta có hình học hyperpolic (tổng ba góc trong một tam giác nhỏ hơn 180 độ; qua một điểm ở ngoài một đường thẳng có thể vẽ được vô số đường thằng song song với đường thẳng đã cho; độ cong của mặt là hằng số âm). Thurston tổng quát hoá quan sát này lên không gian ba chiều, một cách nôm na, mỗi đa tạp không biên compắc ba chiều đều có thể được cắt thành từng mảnh mà trên mỗi mảnh có một hình học duy nhất. Đây được gọi là Giả thuyết Hình học hoá; nó chứa Giả thuyết Poincaré như là trường hợp riêng. Thurston được tặng giải Fields năm 1982.
Giả thuyết Hình học hoá của Thurston mở ra một hướng mới để nghiên cứu Giả thuyết Poincaré. Vì độ cong của một đa tạp trơn được định nghĩa thông qua các đạo hàm bậc nhất và bậc hai nhất định (trong phép tính Vi Tích phân độ cong của một đường cong với toạ độ được tham số hóa được cho thông qua các đạo hàm bậc nhất và bậc hai của tọa độ) nên xuất hiện khả năng sử dụng những công cụ của Hình học vi phân, Giải tích và Phương trình đạo hàm riêng. Một chương trình nhằm chứng minh Giả thuyết Hình học hoá đã được đề ra bởi nhà toán học Mỹ Richard Hamilton vào đầu thập kỉ 1980.
Cũng cần nói rằng Giả thuyết Poincaré đã tiêu tốn nhiều nỗ lực không thành của nhiều nhà toán học tên tuổi; và những chứng minh sai (cũng như những "chứng minh" không được chú ý đến) đã từng được đưa ra.
Vào năm 2002 nhà toán học Nga Grigory Perelman bất ngờ công bố trên mạng Internet những bản thảo trong đó tuyên bố rằng những trở ngại kĩ thuật cuối cùng trong chương trình của Hamilton đã được vượt qua. Vì Perelman đã là một nhà toán học có uy tín và hướng tấn công của ông có tính thuyết phục cao nên bản thảo của ông nhận được sự quan tâm lớn. Nhiều nhóm các chuyên gia hàng đầu đã bắt tay vào kiểm tra công trình rất phức tạp của Perelman. Trong một thời gian dài không ai dám đứng ra đoan chắc là công trình của Perelman là đúng tuy rằng không có lỗi nghiêm trọng nào được phát hiện.
Đến hè năm nay 2006 thì ba nhóm độc lập với nhau đã công bố kết quả công việc kiểm tra công phu của mình và sự đồng thuận đã được hình thành trong các chuyên gia là Perelman đã chứng minh Giả thuyết Poincaré. Còn việc Perelman có chứng minh được toàn bộ Giả thuyết Hình học hoá hay chưa có lẽ còn chờ thêm thời gian.
Như vậy sau gần đúng một thế kỉ những công sức to lớn của nhiều thế hệ các nhà toán học nối tiếp nhau đã mang đến thành tựu huy hoàng là cuối cùng Giả thuyết của Poincaré, một trong những bài toán nổi tiếng nhất của Toán học, đã được chứng minh.
Giải thưởng Fields được coi là một trong những giải thưởng quan trọng nhất trong ngành Toán. Cứ bốn năm một lần tại Đại hội các nhà Toán học quốc tế giải này lại được trao cho không quá bốn nhà toán học dưới 40 tuổi được coi là xuất sắc nhất. Người được nhận giải sẽ được nhận một huy chương trên đó có chân dung Archimede và dòng chữ bằng tiếng Latin, tạm dịch là "Hãy vượt qua giới hạn tinh thần và thấu hiểu thế giới".
Grigory Perelman là một người khác thường. Ông sinh năm 1966 và đã từng là một trong ba người đạt điểm tuyệt đối trong kì thi Olympic Toán học quốc tế năm 1982 (một trong hai người còn lại là Lê Tự Quốc Thắng). Ông là một chuyên gia xuất sắc về hình học vi phân và đã được mời báo cáo tại Đại hội các nhà Toán học quốc tế năm 1994. Sau đó ông trở về làm việc tại viện toán Steklov ở Saint Petersburg của Nga và rất ít khi giao tiếp với thế giới bên ngoài. Ngay cả sau khi bất ngờ công bố công trình chấn động của mình ông vẫn từ chối hầu hết những lời mời đến thuyết giảng và hoàn toàn không giao thiệp với báo chí. Có vẻ Perelman cũng không có ý định gởi đăng các bản thảo của mình. Người ta đồn rằng Perelman không màng tiền tài lẫn danh vọng. Trước đây Perelman đã từng từ chối không nhận một giải thưỏng của hội Toán học châu Âu năm 1996, vì vậy người ta e ngại rằng chưa chắc gì ông sẽ chịu nhận giải Fields, và sự e ngại đó đã trở thành sự thật: Theo thông báo mới nhất Perelman đã từ chối giải Fields năm nay.
Giả thuyết Poincaré là một trong bảy "Bài toán Thiên niên kỉ" mà viện Clay, một tổ chức ở Mỹ trao giải. Người đầu tiên giải được một trong những bài toán này sẽ được giải thưởng là một triệu đôla! Sáu bài toán còn lại gồm có: P=NP, một bài toán trong lý thuyết tính toán; giả thuyết Hodge trong hình học đại số; phương trình Navier-Stokes trong phương trình đạo hàm riêng; giả thuyết Riemann trong lý thuyết số; giả thuyết Birch và Swinnerton-Dyer trong hình học đại số và lý thuyết số; và vấn đề lý thuyết Yang-Mill trong vật lí toán.
Grigory Perelman - người giải được bài toán Thiên niên kỷ và khước từ giải thưởng hàng triệu đô
Grigory Perelman, nhà khoa học Nga khước từ giải "Nobel Toán học", thường tách mình khỏi thế giới bên ngoài và không đoái hoài đến danh tiếng. Ông không đến nhận giải này, và có lẽ sẽ từ chối phần thưởng 1 triệu USD cho việc giải được Câu đố Thiên niên kỷ.
Grigory Perelman, 40 tuổi, giành giải Fields (vốn được coi là danh giá ngang với giải Nobel trong lĩnh vực khác) nhờ công trình nghiên cứu hình học của ông. Công trình này được đánh giá là có khả năng giúp các chuyên gia khám phá ra hình khối của vũ trụ. Tuy nhiên, theo các nhà tổ chức Đại hội Toán học Quốc tế thứ 25 ở Madrid, ông sẽ không đến nhận giải thưởng.
Các cựu đồng nghiệp của ông ở St Petersburg, quê hương nhà toán học, cho biết điều này phù hợp với tính cách một con người luôn khước từ sự nổi tiếng.
“Anh ấy rất lịch thiệp nhưng ít nói”, Natalya Stepanovna, từng làm việc cùng Perelman tại Học viện Toán học Steklov ở St Peterburg, cho biết. Perelman bất ngờ rút khỏi học viện này ngày 1/1 mà không đưa ra một lời giải thích. Những người làm việc tại đây không gặp lại ông kể từ khi đó.
“Có lẽ là anh ấy muốn được tự do nghiên cứu”, Stepanovna suy đoán.
Viện phó Sergei Novikov cho biết Perelman bắt đầu tìm hiểu về Poincare Conjecture, định lý toán học mà ông có vẻ đã tìm ra lời giải và nhờ vậy được trao giải Fields, từ năm 1992.
“Nhưng từ khi Perelman bắt đầu bộc lộ những tính cách lập dị, tôi nghĩ anh ấy sẽ không bao giờ hoàn tất những ý tưởng của mình. Thì ra anh ấy đã hoàn tất việc nghiên cứu”, Novikov cho biết. ‘Tôi đã cố đưa Perelman vào viện hàn lâm khoa học, trao cả học bổng cho anh ấy, nhưng anh ấy cứ một mực từ chối tất cả”.
Trong bức ảnh hiếm hoi do Học viện Toán học Steklov cung cấp, Perelman có đôi mắt xanh, bộ râu dày và đôi lông mày rậm.
Perelman sinh ngày 13/6/1966 ở Leningrad, tên cũ của St Petersburg. Giáo viên dạy toán của ông - Tamara Yefimova - gọi ông là Grisha. Cậu bé học tại trường chuyên toán 239. Theo Yefimova, Grisha là một “học sinh thông minh, học giỏi tất cả các môn, trừ thể thao”.
Năm 16 tuổi, Perelman giành giải cao nhất tại cuộc thi Olympic Toán Quốc tế ở Budadpest năm 1982 với số điểm tuyệt đối.
“Toán học luôn là điều quan trọng nhất với em. Nhưng tôi không thể nói em là một người khép kín hay lập dị. Điều đó không đúng. Grisha có bạn bè và chơi đàn violon”, Yefimova cho biết. “Tôi hiểu tại sao em lại không muốn gặp các nhà báo. Grisha là một người uyên bác, chỉ quan tâm đến sự thật chứ không thích những chuyện bàn tán xung quanh”.
Perelman hoàn tất bằng tiến sĩ toán học, chuyên về lĩnh vực hình học nghiên cứu hình dáng của các vật thể trong không gian. Sau đó ông giảng dạy tại các trường đại học Mỹ, trong đó có Học viện Công nghệ Massachusetts, rồi về Nga vào giữa thập kỷ 1990
Vào năm 1996, Perelman giành giải thưởng tại Đại hội Toán học châu Âu lần thứ hai ở Budapest. Ông từ chối giải này, vì cho rằng ban giám khảo chưa đủ trình độ.
Danh tiếng thật sự đến với Perelman vào năm 2002 và 2003 khi ông công bố trên Internet hai bản nghiên cứu giải định lý Pointcare Conjecture. Câu đố này đã khiến các nhà toán học bó tay kể từ khi Henri Pointcare, người Pháp, đưa ra năm 1904. Trong khoảng 61 trang viết tay của mình, Perelman dường như đã chứng minh được định lý, nhưng ông chưa đưa ra một công trình đầy đủ trên các tạp chí khoa học.
Đây cũng chính là một những Câu đố Thiên niên kỷ mà Học viện Toán học Clay từng hứa giành giải thưởng 1 triệu đôla cho ai giải được nó. Perelman cũng không đoái hoài đến việc nhận số tiền này.
Hiện nay thiên tài toán học được cho là đang sống cùng mẹ ở St Petersburg. Các cú gọi tới số điện thoại Perelman đăng ký trong danh bạ đều không có người đáp. Những người quen thì từ chối cung cấp số liên lạc hay địa chỉ của ông, giải thích rằng ông không muốn nói chuyện với giới báo chí.
Một cựu đồng nghiệp, Yevgeny Damaskinsky, nhận xét Perelman “là một người rất hướng nội” không quan tâm đến tiền mà chỉ nghĩ đến việc nghiên cứu. “Đôi khi anh ấy có vẻ như hơi điên rồ nhưng đó là phẩm chất mà tất cả các nhà toán học tài năng đều có”.
Ngày 22 tháng 8 năm 2006 tại Đại hội các nhà Toán học Quốc tế tại Madrid, Tây Ban Nha, giải thưởng Fields đã được trao tặng cho Grigory Perelman vì những công trình của ông nhằm chứng minh Giả thuyết Poincaré và Giả thuyết Hình học hóa của Thurston.
Giả thuyết Poincaré do nhà toán học lỗi lạc người Pháp Henri Poincaré-người khai sinh ra ngành Topology-đề xướng năm 1904, nội dung như sau:
"Nếu một đa tạp ba chiều compắc không có biên là đơn liên, thì nó đồng phôi với mặt cầu ba chiều."
Nôm na một chút, hai không gian tôpô là đồng phôi nếu có một song ánh liên tục từ không gian này vào không gian kia sao cho ánh xạ ngược cũng liên tục, nghĩa là hai không gian giống như nhau về mặt tôpô. Một đa tạp ba chiều không có biên là một không gian tôpô mà mỗi điểm có một lân cận đồng phôi với một lân cận của không gian Euclide ba chiều R^3, nghĩa là về mặt địa phương một đa tạp ba chiều không khác gì R^3. Một không gian tôpô là đơn liên nếu mỗi đường cong đóng liên tục trên đó đều có thể được "thắt" một cách liên tục thành một điểm, nghĩa là nó đồng luân liên tục với một điểm, nói cách khác nhóm cơ bản của không gian chỉ chứa phần tử đơn vị.
Giả thuyết tổng quát hơn cho đa tạp n-chiều được gọi là Giả thuyết Poincaré mở rộng.
Trong trường hợp n=2 người ta đã biết từ lâu và không quá khó để chứng tỏ rằng mặt cầu hai chiều là mặt không biên compắc duy nhất mà là đơn liên. Những mặt xuyến là không đơn liên vì chúng có những "lỗ" và do đó có những đường cong đóng không thể thắt lại được.
Những cố gắng để nghiên cứu Giả thuyết Poincaré mở rộng đã dẫn đến những tiến bộ to lớn trong ngành Tôpô và trong Toán học nói chung.
Năm 1960 nhà toán học lớn người Mỹ Stephen Smale đã chứng minh Giả thuyết Poincaré mở rộng cho mọi n lớn hơn hay bằng 5. Công cụ chủ yếu của ông là Lý thuyết Morse trong Tôpô vi phân. Smale đưọc trao giải Fields năm 1966. (Smale là người tham gia tích cực vào phong trào chống chiến tranh Việt Nam, cách đây vài năm đã sang thăm Việt Nam.)
Mãi đến năm 1982 trường hợp n=4 mới được giải quyết nhờ công của nhà toán học Mỹ Michael Freedman. Công cụ của ông lại hoàn toàn là Tôpô Hình học, nghĩa là nói chung không sử dụng các cấu trúc vi phân hay đại số. Freedman cũng được trao giải thưởng Fields năm 1986.
Đóng góp to lớn vào những công trình nghiên cứu dẫn đến các kết quả này và những tiếng bộ sau đó phải kể đến John Milnor (giải Fields 1966), John Stallings, Papakyriapoulos, Sergey Novikov (giải Fields 1970), Robion Kirby, Simon Donaldson (giải Fields 1986) và nhiều người khác. Những phương pháp khác nhau đã được sử dụng: Tôpô vi phân, Tôpô đại số, Tôpô hình học, và cả những ý tưởng từ vật lí lí thuyết.
Vào khoảng những năm cuối thập kỉ 1970 nhà toán học Mỹ William Thurston có những quan sát theo một hướng mới. Ông nhận thấy là trong trường hợp hai chiều mặt cầu là mặt duy nhất mà trên đó có thể đặt hình học elliptic (tổng ba góc trong một tam giác lớn hẳn hơn 180 độ; hai đường thẳng bất kì đều cắt nhau; độ cong của mặt là hằng số dương), trên mặt xuyến một lỗ có hình học Euclide (tổng ba góc trong một tam giác bằng 180 độ; qua một điểm ở ngoài một đường thẳng chỉ có một đường thằng song song với đường thẳng đã cho; độ cong của mặt luôn luôn bằng không); với tất cả các mặt xuyến còn lại ta có hình học hyperpolic (tổng ba góc trong một tam giác nhỏ hơn 180 độ; qua một điểm ở ngoài một đường thẳng có thể vẽ được vô số đường thằng song song với đường thẳng đã cho; độ cong của mặt là hằng số âm). Thurston tổng quát hoá quan sát này lên không gian ba chiều, một cách nôm na, mỗi đa tạp không biên compắc ba chiều đều có thể được cắt thành từng mảnh mà trên mỗi mảnh có một hình học duy nhất. Đây được gọi là Giả thuyết Hình học hoá; nó chứa Giả thuyết Poincaré như là trường hợp riêng. Thurston được tặng giải Fields năm 1982.
Giả thuyết Hình học hoá của Thurston mở ra một hướng mới để nghiên cứu Giả thuyết Poincaré. Vì độ cong của một đa tạp trơn được định nghĩa thông qua các đạo hàm bậc nhất và bậc hai nhất định (trong phép tính Vi Tích phân độ cong của một đường cong với toạ độ được tham số hóa được cho thông qua các đạo hàm bậc nhất và bậc hai của tọa độ) nên xuất hiện khả năng sử dụng những công cụ của Hình học vi phân, Giải tích và Phương trình đạo hàm riêng. Một chương trình nhằm chứng minh Giả thuyết Hình học hoá đã được đề ra bởi nhà toán học Mỹ Richard Hamilton vào đầu thập kỉ 1980.
Cũng cần nói rằng Giả thuyết Poincaré đã tiêu tốn nhiều nỗ lực không thành của nhiều nhà toán học tên tuổi; và những chứng minh sai (cũng như những "chứng minh" không được chú ý đến) đã từng được đưa ra.
Vào năm 2002 nhà toán học Nga Grigory Perelman bất ngờ công bố trên mạng Internet những bản thảo trong đó tuyên bố rằng những trở ngại kĩ thuật cuối cùng trong chương trình của Hamilton đã được vượt qua. Vì Perelman đã là một nhà toán học có uy tín và hướng tấn công của ông có tính thuyết phục cao nên bản thảo của ông nhận được sự quan tâm lớn. Nhiều nhóm các chuyên gia hàng đầu đã bắt tay vào kiểm tra công trình rất phức tạp của Perelman. Trong một thời gian dài không ai dám đứng ra đoan chắc là công trình của Perelman là đúng tuy rằng không có lỗi nghiêm trọng nào được phát hiện.
Đến hè năm nay 2006 thì ba nhóm độc lập với nhau đã công bố kết quả công việc kiểm tra công phu của mình và sự đồng thuận đã được hình thành trong các chuyên gia là Perelman đã chứng minh Giả thuyết Poincaré. Còn việc Perelman có chứng minh được toàn bộ Giả thuyết Hình học hoá hay chưa có lẽ còn chờ thêm thời gian.
Như vậy sau gần đúng một thế kỉ những công sức to lớn của nhiều thế hệ các nhà toán học nối tiếp nhau đã mang đến thành tựu huy hoàng là cuối cùng Giả thuyết của Poincaré, một trong những bài toán nổi tiếng nhất của Toán học, đã được chứng minh.
Giải thưởng Fields được coi là một trong những giải thưởng quan trọng nhất trong ngành Toán. Cứ bốn năm một lần tại Đại hội các nhà Toán học quốc tế giải này lại được trao cho không quá bốn nhà toán học dưới 40 tuổi được coi là xuất sắc nhất. Người được nhận giải sẽ được nhận một huy chương trên đó có chân dung Archimede và dòng chữ bằng tiếng Latin, tạm dịch là "Hãy vượt qua giới hạn tinh thần và thấu hiểu thế giới".
Grigory Perelman là một người khác thường. Ông sinh năm 1966 và đã từng là một trong ba người đạt điểm tuyệt đối trong kì thi Olympic Toán học quốc tế năm 1982 (một trong hai người còn lại là Lê Tự Quốc Thắng). Ông là một chuyên gia xuất sắc về hình học vi phân và đã được mời báo cáo tại Đại hội các nhà Toán học quốc tế năm 1994. Sau đó ông trở về làm việc tại viện toán Steklov ở Saint Petersburg của Nga và rất ít khi giao tiếp với thế giới bên ngoài. Ngay cả sau khi bất ngờ công bố công trình chấn động của mình ông vẫn từ chối hầu hết những lời mời đến thuyết giảng và hoàn toàn không giao thiệp với báo chí. Có vẻ Perelman cũng không có ý định gởi đăng các bản thảo của mình. Người ta đồn rằng Perelman không màng tiền tài lẫn danh vọng. Trước đây Perelman đã từng từ chối không nhận một giải thưỏng của hội Toán học châu Âu năm 1996, vì vậy người ta e ngại rằng chưa chắc gì ông sẽ chịu nhận giải Fields, và sự e ngại đó đã trở thành sự thật: Theo thông báo mới nhất Perelman đã từ chối giải Fields năm nay.
Giả thuyết Poincaré là một trong bảy "Bài toán Thiên niên kỉ" mà viện Clay, một tổ chức ở Mỹ trao giải. Người đầu tiên giải được một trong những bài toán này sẽ được giải thưởng là một triệu đôla! Sáu bài toán còn lại gồm có: P=NP, một bài toán trong lý thuyết tính toán; giả thuyết Hodge trong hình học đại số; phương trình Navier-Stokes trong phương trình đạo hàm riêng; giả thuyết Riemann trong lý thuyết số; giả thuyết Birch và Swinnerton-Dyer trong hình học đại số và lý thuyết số; và vấn đề lý thuyết Yang-Mill trong vật lí toán.
Grigory Perelman - người giải được bài toán Thiên niên kỷ và khước từ giải thưởng hàng triệu đô
Grigory Perelman, nhà khoa học Nga khước từ giải "Nobel Toán học", thường tách mình khỏi thế giới bên ngoài và không đoái hoài đến danh tiếng. Ông không đến nhận giải này, và có lẽ sẽ từ chối phần thưởng 1 triệu USD cho việc giải được Câu đố Thiên niên kỷ.
Grigory Perelman, 40 tuổi, giành giải Fields (vốn được coi là danh giá ngang với giải Nobel trong lĩnh vực khác) nhờ công trình nghiên cứu hình học của ông. Công trình này được đánh giá là có khả năng giúp các chuyên gia khám phá ra hình khối của vũ trụ. Tuy nhiên, theo các nhà tổ chức Đại hội Toán học Quốc tế thứ 25 ở Madrid, ông sẽ không đến nhận giải thưởng.
Các cựu đồng nghiệp của ông ở St Petersburg, quê hương nhà toán học, cho biết điều này phù hợp với tính cách một con người luôn khước từ sự nổi tiếng.
“Anh ấy rất lịch thiệp nhưng ít nói”, Natalya Stepanovna, từng làm việc cùng Perelman tại Học viện Toán học Steklov ở St Peterburg, cho biết. Perelman bất ngờ rút khỏi học viện này ngày 1/1 mà không đưa ra một lời giải thích. Những người làm việc tại đây không gặp lại ông kể từ khi đó.
“Có lẽ là anh ấy muốn được tự do nghiên cứu”, Stepanovna suy đoán.
Viện phó Sergei Novikov cho biết Perelman bắt đầu tìm hiểu về Poincare Conjecture, định lý toán học mà ông có vẻ đã tìm ra lời giải và nhờ vậy được trao giải Fields, từ năm 1992.
“Nhưng từ khi Perelman bắt đầu bộc lộ những tính cách lập dị, tôi nghĩ anh ấy sẽ không bao giờ hoàn tất những ý tưởng của mình. Thì ra anh ấy đã hoàn tất việc nghiên cứu”, Novikov cho biết. ‘Tôi đã cố đưa Perelman vào viện hàn lâm khoa học, trao cả học bổng cho anh ấy, nhưng anh ấy cứ một mực từ chối tất cả”.
Trong bức ảnh hiếm hoi do Học viện Toán học Steklov cung cấp, Perelman có đôi mắt xanh, bộ râu dày và đôi lông mày rậm.
Perelman sinh ngày 13/6/1966 ở Leningrad, tên cũ của St Petersburg. Giáo viên dạy toán của ông - Tamara Yefimova - gọi ông là Grisha. Cậu bé học tại trường chuyên toán 239. Theo Yefimova, Grisha là một “học sinh thông minh, học giỏi tất cả các môn, trừ thể thao”.
Năm 16 tuổi, Perelman giành giải cao nhất tại cuộc thi Olympic Toán Quốc tế ở Budadpest năm 1982 với số điểm tuyệt đối.
“Toán học luôn là điều quan trọng nhất với em. Nhưng tôi không thể nói em là một người khép kín hay lập dị. Điều đó không đúng. Grisha có bạn bè và chơi đàn violon”, Yefimova cho biết. “Tôi hiểu tại sao em lại không muốn gặp các nhà báo. Grisha là một người uyên bác, chỉ quan tâm đến sự thật chứ không thích những chuyện bàn tán xung quanh”.
Perelman hoàn tất bằng tiến sĩ toán học, chuyên về lĩnh vực hình học nghiên cứu hình dáng của các vật thể trong không gian. Sau đó ông giảng dạy tại các trường đại học Mỹ, trong đó có Học viện Công nghệ Massachusetts, rồi về Nga vào giữa thập kỷ 1990
Vào năm 1996, Perelman giành giải thưởng tại Đại hội Toán học châu Âu lần thứ hai ở Budapest. Ông từ chối giải này, vì cho rằng ban giám khảo chưa đủ trình độ.
Danh tiếng thật sự đến với Perelman vào năm 2002 và 2003 khi ông công bố trên Internet hai bản nghiên cứu giải định lý Pointcare Conjecture. Câu đố này đã khiến các nhà toán học bó tay kể từ khi Henri Pointcare, người Pháp, đưa ra năm 1904. Trong khoảng 61 trang viết tay của mình, Perelman dường như đã chứng minh được định lý, nhưng ông chưa đưa ra một công trình đầy đủ trên các tạp chí khoa học.
Đây cũng chính là một những Câu đố Thiên niên kỷ mà Học viện Toán học Clay từng hứa giành giải thưởng 1 triệu đôla cho ai giải được nó. Perelman cũng không đoái hoài đến việc nhận số tiền này.
Hiện nay thiên tài toán học được cho là đang sống cùng mẹ ở St Petersburg. Các cú gọi tới số điện thoại Perelman đăng ký trong danh bạ đều không có người đáp. Những người quen thì từ chối cung cấp số liên lạc hay địa chỉ của ông, giải thích rằng ông không muốn nói chuyện với giới báo chí.
Một cựu đồng nghiệp, Yevgeny Damaskinsky, nhận xét Perelman “là một người rất hướng nội” không quan tâm đến tiền mà chỉ nghĩ đến việc nghiên cứu. “Đôi khi anh ấy có vẻ như hơi điên rồ nhưng đó là phẩm chất mà tất cả các nhà toán học tài năng đều có”.
Vì sao người Việt làm toán “chạy” gần hết sang Mỹ?
Trong khi đội ngũ làm toán của nước ta đang thiếu những người giỏi thì hơn một nửa những người làm toán giỏi đang ở nước ngoài, phần lớn là ở Mỹ. Những chia sẻ dưới đây của các nhà khoa học và cựu du học sinh ở Mỹ sẽ làm sáng tỏ phần nào nguyên nhân.
Những “tên tuổi” về toán học tập trung ở Mỹ
Nước Mỹ vốn nổi tiếng là "vùng trũng" thu hút nhân tài. Ngành khoa học cơ bản như Toán học hiển nhiên được chú trọng.
GS Ngô Bảo Châu, mặc dù đã có thời gian học và làm việc 15 năm ở Pháp, vẫn chọn Mỹ là nơi dừng chân.
Những người Việt ở nước ngoài làm toán chuyên nghiệp ước tính trên 100 người, trong đó phần lớn tập trung ở Mỹ.
Những người Việt làm toán có tiếng ở Mỹ có thể kể đến: GS Vũ Hà Văn (ĐH Rutgers), GS Dương Hồng Phong (ĐH Columbia), GS Đào Hải Long (ĐH Kansas), Lê Hải An (ĐH Utah), GS Lê Tự Quốc Thắng (Viện công nghệ Georgia, Atlanta), GS Phạm Hữu Tiệp (ĐH Florida), Ngô Thanh Nhàn (ĐH New York)...
Ông Lê Tuấn Hoa, Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam cho biết trong số khoảng gần 30 người Việt đang làm việc về ngành toán ở nước ngoài có trao đổi thường xuyên và thỉnh thoảng về nước làm việc thì có khoảng một nửa đang làm việc tại Mỹ.
"Những người làm toán trẻ và giỏi, độ tuổi trên dưới 35 phải đến hơn một nửa đang làm việc ở nước ngoài, trong đó chủ yếu ở Mỹ", ông cho biết thêm.
Nước đứng đầu về số lượng giải Fields, giải thưởng cao quý nhất về toán học cũng chính là Mỹ (13 giải), tiếp đến là Pháp (11 giải), Nga (9 giải), Anh (6 giải).
Tại ĐH Toán học thế giới vừa qua tại Ấn Độ, có 19 báo cáo mời toàn thể thì Mỹ chiếm tới 11 báo cáo. Không thể không nhắc tới, GS Ngô Bảo Châu khi thêm vào một huy chương Fields cho bảng thành tích giải Fields của nước này.
Vì sao nước Mỹ là đích đến cho các nhà toán học?
Một GS toán người Việt đang làm việc tại Mỹ nhận định: "Một đất nước muốn phát triển kinh tế thì trước hết phải có nền khoa học tiên tiến - đây chính là tư tưởng mà Mỹ đã áp dụng từ rất lâu.
Làm khoa học, ai cũng muốn ở trong một môi trường có nhiều người quan tâm tới thứ mình làm, có nhiều người để thảo luận và cộng tác. Mỹ chính là một môi trường như vậy, có rất nhiều nhà khoa học trong mỗi chuyên ngành hẹp. Đây là kết quả của một quá trình đầu tư lâu dài".
GS. Ngô Bảo Châu trong một bài phỏng vấn cũng nói lý do chuyển đến ĐH Chicago là vì cần những đồng nghiệp có thể hiểu những gì anh đang làm.
GS Hà Huy Tài, ĐH Tulane (Mỹ) cho biết thêm: "Không phải các nhà khoa học không muốn sang châu Âu, mà sang châu Âu khó hơn qua Mỹ, mà công việc thì chưa chắc đã tốt bằng. Mỹ có rất nhiều trường đại học và các viện nghiên cứu. Hơn nữa, khi xét hồ sơ xin việc trong khoa học, người ta sẽ không quan tâm anh là người Mỹ hay người nước ngoài (trừ một số nơi đặc biệt), thành ra, cơ hội là cao hơn. Ở châu Âu, số lượng các trường đại học ít hơn nhiều, và thường vẫn có sự ưu tiên cho người bản xứ".
Thêm vào đó “Ở Mỹ, lương trả cao hơn ở các nước khác, hơn nữa lương trả theo khả năng. Hai giáo sư cùng một chuyên ngành, vào trường cùng thời gian nhưng lương có thể khác hẳn nhau. Nếu bạn thật sự giỏi, người ta sẵn sàng trả lương rất cao để mời bạn về. Ở nhiều nước châu Âu (trong đó có Việt Nam), nếu hai người có cùng học hàm, học vị, cùng thâm niên công tác và làm việc cùng cơ quan thì lương phần nhiều là tương đương nhau”, GS Hà Huy Tài nói.
Một du học sinh tại Mỹ, đã từng làm việc tại Mỹ và Việt Nam, Nguyễn Nguyệt, lý giải vì sao Mỹ thu hút được nhân tài khắp thế giới:
"Từ thế chiến thứ II đến nay, Mỹ luôn ra sức giành giật nguồn chất xám từ các nước. Nước Mỹ chiếm tới 2/3 số giải Nobel của thế giới, trong đó, có sự đóng góp của rất nhiều nhà khoa học nhập cư. Và chính nguồn chất xám thu hút được này đã giúp Mỹ tích lũy được một nguồn của cải khổng lồ với GDP lên tới gần 15.000 tỉ USD trong năm ngoái là năm đang chìm trong suy thoái.
Có thể nói, họ gặt hái được nhiều thành công và xây dựng được một nền kinh tế vượt bậc là do họ biết định giá nhân tài, và mua chất xám. Lí do Mỹ thu hút được nguồn nhân tài lớn do thu nhập cao, môi trường năng động, cơ sở vật chất đầy đủ, đãi ngộ rất tốt đối với những cá nhân xuất sắc.
Cơ chế thị trường của Mỹ đã được xây dựng và củng cố từ hàng trăm năm nay. Môi trường pháp lý cũng rất phát triển. Do đó, môi trường làm việc vô cùng chuyên nghiệp, với sự liên kết chặt chẽ, đề cao sự sang tạo và cái mới, đặc biệt là những người trẻ tuổi. Sự liên lạc – trao đổi thông tin được đề cao, cạnh tranh khốc liệt nhưng công bằng.
Trong văn hóa Mỹ, giá trị của một con người nằm ở việc anh ta làm được gì và anh ta làm việc bao lâu nên cuộc sống xoay quanh công việc, vô cùng căng thẳng".
Thu hút người tài trở về từ Mỹ
Chỉ thu hút được người làm toán giỏi ở Mỹ về Việt Nam cũng là một thành công lớn. Nếu như môi trường làm việc ở Mỹ được coi là lý tưởng thì môi trường sống không hẳn như vậy. Người Việt dù xa quê nhiều năm vẫn thèm một không khí ấm áp, chân tình như ở quê nhà. Đó là chưa kể, cái kết nối khiến họ không thể đi mãi không về là gia đình, họ hàng, bạn bè thân thuộc đang còn ở Việt Nam.
GS Hà Huy Tài chia sẻ tâm sự rất thật: "Cuộc sống ở Mỹ rất tốt cho công việc, nhưng lại khá buồn tẻ và luôn phải chịu áp lực lớn vì tính cạnh tranh cao. Ngoài công việc ra thì tôi không thích cuộc sống bên Mỹ là mấy."
Tất nhiên, ai cũng hiểu, nhà khoa học Việt, bên cạnh môi trường làm việc tốt còn là sự mưu sinh mà phải tha hương. Nếu như đồng lương trong nước đảm bảo cuộc sống để yên tâm nghiên cứu thì chắc chắn, đã có rất nhiều nhà khoa học trở về. Nếu như chỉ cần cải thiện được thu nhập thì Việt Nam sẽ trở thành "vùng trũng tự nhiên" thu hút người con đất Việt.
Những “tên tuổi” về toán học tập trung ở Mỹ
Nước Mỹ vốn nổi tiếng là "vùng trũng" thu hút nhân tài. Ngành khoa học cơ bản như Toán học hiển nhiên được chú trọng.
GS Ngô Bảo Châu, mặc dù đã có thời gian học và làm việc 15 năm ở Pháp, vẫn chọn Mỹ là nơi dừng chân.
Những người Việt ở nước ngoài làm toán chuyên nghiệp ước tính trên 100 người, trong đó phần lớn tập trung ở Mỹ.
Những người Việt làm toán có tiếng ở Mỹ có thể kể đến: GS Vũ Hà Văn (ĐH Rutgers), GS Dương Hồng Phong (ĐH Columbia), GS Đào Hải Long (ĐH Kansas), Lê Hải An (ĐH Utah), GS Lê Tự Quốc Thắng (Viện công nghệ Georgia, Atlanta), GS Phạm Hữu Tiệp (ĐH Florida), Ngô Thanh Nhàn (ĐH New York)...
Ông Lê Tuấn Hoa, Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam cho biết trong số khoảng gần 30 người Việt đang làm việc về ngành toán ở nước ngoài có trao đổi thường xuyên và thỉnh thoảng về nước làm việc thì có khoảng một nửa đang làm việc tại Mỹ.
"Những người làm toán trẻ và giỏi, độ tuổi trên dưới 35 phải đến hơn một nửa đang làm việc ở nước ngoài, trong đó chủ yếu ở Mỹ", ông cho biết thêm.
Nước đứng đầu về số lượng giải Fields, giải thưởng cao quý nhất về toán học cũng chính là Mỹ (13 giải), tiếp đến là Pháp (11 giải), Nga (9 giải), Anh (6 giải).
Tại ĐH Toán học thế giới vừa qua tại Ấn Độ, có 19 báo cáo mời toàn thể thì Mỹ chiếm tới 11 báo cáo. Không thể không nhắc tới, GS Ngô Bảo Châu khi thêm vào một huy chương Fields cho bảng thành tích giải Fields của nước này.
Vì sao nước Mỹ là đích đến cho các nhà toán học?
Một GS toán người Việt đang làm việc tại Mỹ nhận định: "Một đất nước muốn phát triển kinh tế thì trước hết phải có nền khoa học tiên tiến - đây chính là tư tưởng mà Mỹ đã áp dụng từ rất lâu.
Làm khoa học, ai cũng muốn ở trong một môi trường có nhiều người quan tâm tới thứ mình làm, có nhiều người để thảo luận và cộng tác. Mỹ chính là một môi trường như vậy, có rất nhiều nhà khoa học trong mỗi chuyên ngành hẹp. Đây là kết quả của một quá trình đầu tư lâu dài".
GS. Ngô Bảo Châu trong một bài phỏng vấn cũng nói lý do chuyển đến ĐH Chicago là vì cần những đồng nghiệp có thể hiểu những gì anh đang làm.
GS Hà Huy Tài, ĐH Tulane (Mỹ) cho biết thêm: "Không phải các nhà khoa học không muốn sang châu Âu, mà sang châu Âu khó hơn qua Mỹ, mà công việc thì chưa chắc đã tốt bằng. Mỹ có rất nhiều trường đại học và các viện nghiên cứu. Hơn nữa, khi xét hồ sơ xin việc trong khoa học, người ta sẽ không quan tâm anh là người Mỹ hay người nước ngoài (trừ một số nơi đặc biệt), thành ra, cơ hội là cao hơn. Ở châu Âu, số lượng các trường đại học ít hơn nhiều, và thường vẫn có sự ưu tiên cho người bản xứ".
Thêm vào đó “Ở Mỹ, lương trả cao hơn ở các nước khác, hơn nữa lương trả theo khả năng. Hai giáo sư cùng một chuyên ngành, vào trường cùng thời gian nhưng lương có thể khác hẳn nhau. Nếu bạn thật sự giỏi, người ta sẵn sàng trả lương rất cao để mời bạn về. Ở nhiều nước châu Âu (trong đó có Việt Nam), nếu hai người có cùng học hàm, học vị, cùng thâm niên công tác và làm việc cùng cơ quan thì lương phần nhiều là tương đương nhau”, GS Hà Huy Tài nói.
Một du học sinh tại Mỹ, đã từng làm việc tại Mỹ và Việt Nam, Nguyễn Nguyệt, lý giải vì sao Mỹ thu hút được nhân tài khắp thế giới:
"Từ thế chiến thứ II đến nay, Mỹ luôn ra sức giành giật nguồn chất xám từ các nước. Nước Mỹ chiếm tới 2/3 số giải Nobel của thế giới, trong đó, có sự đóng góp của rất nhiều nhà khoa học nhập cư. Và chính nguồn chất xám thu hút được này đã giúp Mỹ tích lũy được một nguồn của cải khổng lồ với GDP lên tới gần 15.000 tỉ USD trong năm ngoái là năm đang chìm trong suy thoái.
Có thể nói, họ gặt hái được nhiều thành công và xây dựng được một nền kinh tế vượt bậc là do họ biết định giá nhân tài, và mua chất xám. Lí do Mỹ thu hút được nguồn nhân tài lớn do thu nhập cao, môi trường năng động, cơ sở vật chất đầy đủ, đãi ngộ rất tốt đối với những cá nhân xuất sắc.
Cơ chế thị trường của Mỹ đã được xây dựng và củng cố từ hàng trăm năm nay. Môi trường pháp lý cũng rất phát triển. Do đó, môi trường làm việc vô cùng chuyên nghiệp, với sự liên kết chặt chẽ, đề cao sự sang tạo và cái mới, đặc biệt là những người trẻ tuổi. Sự liên lạc – trao đổi thông tin được đề cao, cạnh tranh khốc liệt nhưng công bằng.
Trong văn hóa Mỹ, giá trị của một con người nằm ở việc anh ta làm được gì và anh ta làm việc bao lâu nên cuộc sống xoay quanh công việc, vô cùng căng thẳng".
Thu hút người tài trở về từ Mỹ
Chỉ thu hút được người làm toán giỏi ở Mỹ về Việt Nam cũng là một thành công lớn. Nếu như môi trường làm việc ở Mỹ được coi là lý tưởng thì môi trường sống không hẳn như vậy. Người Việt dù xa quê nhiều năm vẫn thèm một không khí ấm áp, chân tình như ở quê nhà. Đó là chưa kể, cái kết nối khiến họ không thể đi mãi không về là gia đình, họ hàng, bạn bè thân thuộc đang còn ở Việt Nam.
GS Hà Huy Tài chia sẻ tâm sự rất thật: "Cuộc sống ở Mỹ rất tốt cho công việc, nhưng lại khá buồn tẻ và luôn phải chịu áp lực lớn vì tính cạnh tranh cao. Ngoài công việc ra thì tôi không thích cuộc sống bên Mỹ là mấy."
Tất nhiên, ai cũng hiểu, nhà khoa học Việt, bên cạnh môi trường làm việc tốt còn là sự mưu sinh mà phải tha hương. Nếu như đồng lương trong nước đảm bảo cuộc sống để yên tâm nghiên cứu thì chắc chắn, đã có rất nhiều nhà khoa học trở về. Nếu như chỉ cần cải thiện được thu nhập thì Việt Nam sẽ trở thành "vùng trũng tự nhiên" thu hút người con đất Việt.
Đậu Hải Đăng - Chàng trai HCV Olympic toán 2012 - bật mí về cách học Toán đặc biệt
Hải Đăng được các thầy đánh giá là một chàng trai có lối học khác lạ. Ngoài Toán, Đăng còn thích chơi đàn organ, đi học bằng xe ôm và thích đạp xe khám phá các con phố mới.
Ngày 15/7 vừa qua, tại Argentina, Đậu Hải Đăng, cậu học trò lớp 12 trường chuyên Sư phạm (Hà Nội) đã giành tấm Huy chương Vàng Olympic Toán Quốc tế lần thứ 53. Cùng với 5 bạn khác trong đoàn, Đăng đã đưa đội tuyển Toán trở lại top 10 trong bảng xếp hạng của cuộc thi.
Sáng 17/7, ngay tại sân bay Nội Bài, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức lễ vinh danh những chàng trai vàng của Toán học Việt Nam. Khá đông đảo bạn bè, người thân cũng đứng chờ từ rất sớm để đón các thí sinh. Cũng tại đây, lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trao tặng phần thưởng cho các bạn, huy chương vàng nhận 25 triệu đồng, huy chương bạc là 17 triệu đồng, huy chương đồng nhận 12 triệu.
Chúng ta hãy cùng trò chuyện với Đậu Hải Đăng về niềm đam mê học Toán cũng như những sở thích khác trong cuộc sống của bạn ấy!
Sáng 17/7, ngay tại sân bay Nội Bài, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức lễ vinh danh những chàng trai vàng của Toán học Việt Nam. Khá đông đảo bạn bè, người thân cũng đứng chờ từ rất sớm để đón các thí sinh. Cũng tại đây, lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trao tặng phần thưởng cho các bạn, huy chương vàng nhận 25 triệu đồng, huy chương bạc là 17 triệu đồng, huy chương đồng nhận 12 triệu.
Chúng ta hãy cùng trò chuyện với Đậu Hải Đăng về niềm đam mê học Toán cũng như những sở thích khác trong cuộc sống của bạn ấy!
Sẽ tiếp tục gắn bó với Toán học
Bạn đến với Toán học như thế nào?
Khi vào lớp 10, mình vẫn chưa có định hướng học Toán. Hơn nữa, trong lớp thì có rất nhiều bạn giỏi, và mình học như niềm vui, điều gì đó hay ho. Nhưng sau khi được học các lớp chuyên đề về Toán do các thầy ở trường chuyên Sư phạm dạy, thì Đăng đã yêu thích thực sự. Đến khi được chọn vào đội tuyển thì mình cũng rất bất ngờ, và chính điều đó đã khiến mình học Toán một cách nghiêm túc.
Được học nhiều thầy cô giỏi, vậy ai là người ảnh hưởng đến việc học Toán của bạn nhất?
Có rất nhiều thầy cô ảnh hưởng đến việc học của Đăng, như thầy Hưng chủ nhiệm đội tuyển, thầy Minh Hà dạy hình, thầy Khoái, thầy Hải… Mỗi thầy cô lại có ảnh hưởng theo một kiểu khác nhau. Thậm chí cả những người mình chưa từng một lần gặp như giáo sư Ngô Bảo Châu thì cách học, dạy và suy nghĩ của họ cũng có tác động đến mình.
Thầy cô nhận xét là Đăng giải toán rất đặc biệt, bí quyết của điều này là gì?
Khi mình làm toán thì mình tập trung, suy nghĩ một cách đầy đủ và nghiêm túc thì ý tưởng hay sẽ tự có. Đăng thường tìm cách suy nghĩ mọi vấn đề của bài Toán. Thỉnh thoảng mình cũng tự mày mò vẽ đi vẽ lại nghệch ngoạc những hình vẽ trong vở nhằm tìm ra cách giải mới nhưng không phải khi nào cũng tìm ra được.
Mọi lúc, mọi nơi bạn đều nghĩ đến Toán?
Nếu lúc nào mà cũng nghĩ đến Toán thì chắc chắn sẽ bị căng thẳng. Đăng nghĩ không nên như thế. Làm như vậy thì kết quả cũng sẽ không được tốt. Cần phải biết cân bằng để có được hiệu quả cao nhất.
Sau kỳ thi này, bạn dự định sẽ học ngành gì?
Mình sẽ chọn một ngành liên quan đến Toán và học ĐH ở Việt Nam.
Đăng có định đi du học?
Đến lúc này thì mình chưa nghĩ tới điều đó.
Bạn đến với Toán học như thế nào?
Khi vào lớp 10, mình vẫn chưa có định hướng học Toán. Hơn nữa, trong lớp thì có rất nhiều bạn giỏi, và mình học như niềm vui, điều gì đó hay ho. Nhưng sau khi được học các lớp chuyên đề về Toán do các thầy ở trường chuyên Sư phạm dạy, thì Đăng đã yêu thích thực sự. Đến khi được chọn vào đội tuyển thì mình cũng rất bất ngờ, và chính điều đó đã khiến mình học Toán một cách nghiêm túc.
Được học nhiều thầy cô giỏi, vậy ai là người ảnh hưởng đến việc học Toán của bạn nhất?
Có rất nhiều thầy cô ảnh hưởng đến việc học của Đăng, như thầy Hưng chủ nhiệm đội tuyển, thầy Minh Hà dạy hình, thầy Khoái, thầy Hải… Mỗi thầy cô lại có ảnh hưởng theo một kiểu khác nhau. Thậm chí cả những người mình chưa từng một lần gặp như giáo sư Ngô Bảo Châu thì cách học, dạy và suy nghĩ của họ cũng có tác động đến mình.
Thầy cô nhận xét là Đăng giải toán rất đặc biệt, bí quyết của điều này là gì?
Khi mình làm toán thì mình tập trung, suy nghĩ một cách đầy đủ và nghiêm túc thì ý tưởng hay sẽ tự có. Đăng thường tìm cách suy nghĩ mọi vấn đề của bài Toán. Thỉnh thoảng mình cũng tự mày mò vẽ đi vẽ lại nghệch ngoạc những hình vẽ trong vở nhằm tìm ra cách giải mới nhưng không phải khi nào cũng tìm ra được.
Mọi lúc, mọi nơi bạn đều nghĩ đến Toán?
Nếu lúc nào mà cũng nghĩ đến Toán thì chắc chắn sẽ bị căng thẳng. Đăng nghĩ không nên như thế. Làm như vậy thì kết quả cũng sẽ không được tốt. Cần phải biết cân bằng để có được hiệu quả cao nhất.
Sau kỳ thi này, bạn dự định sẽ học ngành gì?
Mình sẽ chọn một ngành liên quan đến Toán và học ĐH ở Việt Nam.
Đăng có định đi du học?
Đến lúc này thì mình chưa nghĩ tới điều đó.
Lúc muốn tự do thì đạp xe đi xa
Có một điều đặc biệt là hình như suốt 3 năm THPT, Đăng chỉ đến trường bằng xe ôm?
Buổi sáng bố mẹ Đăng đi làm lại thường muộn hơn mình đi học, nên gia đình mình đã quyết định chọn giải pháp cho mình đi xe ôm đến trường. Đăng thấy đi xe ôm không có điều gì bất tiện thậm chí còn tiện lợi vì sẽ nhanh hơn xe đạp mà gần cửa nhà mình thì lúc nào cũng có người chở.
Các bạn của Đăng cũng quen với hình ảnh đó rồi nên cũng không có gì lạ lẫm cả. Nhưng thỉnh thoảng có những trận mưa to thì đi xe ôm cũng hay bị bắn ướt cả quần áo. Trong những năm qua thì mọi chuyện đều... êm xuôi, trừ một lần mình đãng trí đội mũ ở nhà đi nhưng lại tưởng mình đội mũ của bác xe ôm! Vào tới lớp rồi, mình còn chạy ra trả mũ vì cứ ngỡ rằng mình đội chiếc của bác.
Lại còn có cả biệt danh "Đăng bột" nữa?
"Đăng bột" là do các thầy tự nghĩ ra và đặt cho mình thôi!
Phải chăng do các thầy yêu mến và cũng thấy rằng bạn ít tham gia và các hoạt động thể dục thế thao nên mới có biệt danh “Đăng bột”?
Trước mình cũng ít tham gia vào các hoạt động thể dục thể thao. Mình chỉ đứng ngoài xem các bạn trong lớp thi đấu. Các bạn mình thi rất cao to, lại đá bóng hay nên tìm được một vị trí trong đội hình của lớp thì cũng khó. Mình chơi đá bóng với mấy em ở gần nhà thì dễ, còn nếu muốn tham gia thể thao cùng các bạn thì cũng cần một chút năng khiếu.
Ngoài Toán học, Đăng còn sở thích nào nữa?
Đăng thường chơi đàn organ khi cảm thấy mệt mỏi và căng thẳng trong học tập. Việc chơi đàn giúp mình có thể minh mẫn và tiếp tục học tập. Nhưng cũng có khi cả tháng Đăng không chơi lần nào.
Trước đây, hồi còn học tiểu học mình cũng có được giải về đàn organ nhưng thời gian đấy cũng lâu rồi. Bây giờ mình cũng không hay thường xuyên chơi mà dành thời gian cho việc học tập.
Cũng có vài lần Đăng biểu diễn đông người như 20/11, 26/3 vì có nhiều các hoạt động Đoàn, Hội. Hai năm gần đây, mình tập trung học đội tuyển nên không biểu diễn nữa. Mình chỉ tham gia biểu diễn năm lớp 10, còn sau đó mình không tham gia.
Giới trẻ thì thường có những khoảnh khắc muốn phát cuồng, muốn tự do, bay nhảy ở một chân trời nào đó. Đăng đã bao giờ muốn "thoát xác" theo cách của mình?
Mình cũng rất thích đi chơi, đi được càng xa càng tốt nhưng nếu gọi là đi "phượt" thì chắc mình chưa có thời gian để đi. Mình thường đạp xe đi chơi xa rồi lại tự quay về.
Trước Đăng có lần một mình đạp xe đi theo đường 32 lên tận Hoài Đức (Hà Tây cũ). Mình đi cho vui, để ngắm cảnh hoặc thỉnh thoảng mình đạp xe vòng quanh Hồ Tây. Đó là cách để mình khám phá những con phố mới.
Có một điều đặc biệt là hình như suốt 3 năm THPT, Đăng chỉ đến trường bằng xe ôm?
Buổi sáng bố mẹ Đăng đi làm lại thường muộn hơn mình đi học, nên gia đình mình đã quyết định chọn giải pháp cho mình đi xe ôm đến trường. Đăng thấy đi xe ôm không có điều gì bất tiện thậm chí còn tiện lợi vì sẽ nhanh hơn xe đạp mà gần cửa nhà mình thì lúc nào cũng có người chở.
Các bạn của Đăng cũng quen với hình ảnh đó rồi nên cũng không có gì lạ lẫm cả. Nhưng thỉnh thoảng có những trận mưa to thì đi xe ôm cũng hay bị bắn ướt cả quần áo. Trong những năm qua thì mọi chuyện đều... êm xuôi, trừ một lần mình đãng trí đội mũ ở nhà đi nhưng lại tưởng mình đội mũ của bác xe ôm! Vào tới lớp rồi, mình còn chạy ra trả mũ vì cứ ngỡ rằng mình đội chiếc của bác.
Lại còn có cả biệt danh "Đăng bột" nữa?
"Đăng bột" là do các thầy tự nghĩ ra và đặt cho mình thôi!
Phải chăng do các thầy yêu mến và cũng thấy rằng bạn ít tham gia và các hoạt động thể dục thế thao nên mới có biệt danh “Đăng bột”?
Trước mình cũng ít tham gia vào các hoạt động thể dục thể thao. Mình chỉ đứng ngoài xem các bạn trong lớp thi đấu. Các bạn mình thi rất cao to, lại đá bóng hay nên tìm được một vị trí trong đội hình của lớp thì cũng khó. Mình chơi đá bóng với mấy em ở gần nhà thì dễ, còn nếu muốn tham gia thể thao cùng các bạn thì cũng cần một chút năng khiếu.
Ngoài Toán học, Đăng còn sở thích nào nữa?
Đăng thường chơi đàn organ khi cảm thấy mệt mỏi và căng thẳng trong học tập. Việc chơi đàn giúp mình có thể minh mẫn và tiếp tục học tập. Nhưng cũng có khi cả tháng Đăng không chơi lần nào.
Trước đây, hồi còn học tiểu học mình cũng có được giải về đàn organ nhưng thời gian đấy cũng lâu rồi. Bây giờ mình cũng không hay thường xuyên chơi mà dành thời gian cho việc học tập.
Cũng có vài lần Đăng biểu diễn đông người như 20/11, 26/3 vì có nhiều các hoạt động Đoàn, Hội. Hai năm gần đây, mình tập trung học đội tuyển nên không biểu diễn nữa. Mình chỉ tham gia biểu diễn năm lớp 10, còn sau đó mình không tham gia.
Giới trẻ thì thường có những khoảnh khắc muốn phát cuồng, muốn tự do, bay nhảy ở một chân trời nào đó. Đăng đã bao giờ muốn "thoát xác" theo cách của mình?
Mình cũng rất thích đi chơi, đi được càng xa càng tốt nhưng nếu gọi là đi "phượt" thì chắc mình chưa có thời gian để đi. Mình thường đạp xe đi chơi xa rồi lại tự quay về.
Trước Đăng có lần một mình đạp xe đi theo đường 32 lên tận Hoài Đức (Hà Tây cũ). Mình đi cho vui, để ngắm cảnh hoặc thỉnh thoảng mình đạp xe vòng quanh Hồ Tây. Đó là cách để mình khám phá những con phố mới.
Con người có thể giải toán trong vô thức
Con người có thể xử lý các câu văn ngắn và giải những phép toán trước khi họ nhận thức được các chữ và con số trước mắt mình, theo một nghiên cứu mới. Điều này cho thấy, chúng ta thực sự không cần hoàn toàn ở trạng thái có ý thức để thực hiện các nhiệm vụ có quy tắc như đọc và số học.
Theo trang Live Science, trong một loạt các thử nghiệm tại Đại học Jerusalem của người Do Thái, hơn 300 sinh viên tình nguyện đã được cho tiếp xúc vô thức với các câu chữ và phép toán thông qua một kỹ thuật nghiên cứu có tên gọi Ức chế chớp nhoáng liên tục (CFS).
Theo trang Live Science, trong một loạt các thử nghiệm tại Đại học Jerusalem của người Do Thái, hơn 300 sinh viên tình nguyện đã được cho tiếp xúc vô thức với các câu chữ và phép toán thông qua một kỹ thuật nghiên cứu có tên gọi Ức chế chớp nhoáng liên tục (CFS).
Bằng phương pháp CFS, một hình ảnh tĩnh xuất hiện trước một mắt trong khi các hình ảnh thay đổi nhanh chóng, lóe qua trước mắt kia của đối tượng nghiên cứu. Ban đầu, các hình ảnh thay đổi liên tục chi phối sự chú ý của chủ thể, khiến hình ảnh tĩnh đi vào tiềm thức trước khi xuất hiện đột ngột trong ý thức.
Trong phần đầu tiên của nghiên cứu, một mắt của người tình nguyện được cho xem một cụm từ hoặc câu tĩnh trong khi mắt còn lại vẫn được cho nhìn chớp nhoáng cụm từ hoặc câu đó nhưng với hình dạng, màu sắc khác nhau thay đổi liên tục. Các đối tượng nghiên cứu được yêu cầu bấm chuông ngay khi họ nhận ra các câu từ.
Kết quả là, việc nhận diện thường mất khoảng 1 giây, nhưng đối với những cụm từ mang nghĩa tiêu cực như “buôn bán người” và các câu vô nghĩa như “Tôi là cà phê”, quá trình này diễn ra nhanh hơn so với việc nhận diện các cụm từ mang nghĩa tích cực và câu chữ mạch lạc hơn như “Tôi là quần áo”.
Trong phần hai của nghiên cứu, nhóm tác giả kiểm tra xem bộ não vô ý thức xử lý các vấn đề toán học như thế nào. Cũng với phương pháp CFS, họ đã cho các đối tượng nghiên cứu tiếp xúc tiềm thức với những phép toán 3 con số như “9 – 3 – 4” trong 2 giây hoặc ngắn hơn. Sau đó, những người tình nguyện được cho xem một con số (không dùng CFS gây nhiễu) và yêu cầu đọc to nó. Kết quả là, họ đọc to con số là đáp án đúng của phép toán trước đó nhanh hơn bất kỳ con số nào khác. Chẳng hạn như, sau khi xem phép toán “9 – 3 – 4”, các sinh viên sẽ đọc to số “2” nhanh hơn những con số khác. Điều hé lộ, họ đã giải được phép toán trong tiềm thức và có câu trả lời sẵn sàng bật ra.
Các nghiên cứu khác gần đây từng chi ra rằng, con người có thể thực hiện một cách vô thức những nhiệm vụ vốn thường gắn với trạng thái có ý thức như đọc và hình thành trực giác. Nghiên cứu mới đã bổ sung thêm bằng chứng về khả năng thực hiện các hoạt động phức tạp, tuân theo quy tắc của bộ não ở trạng thái vô thức.
Nhà tâm lý học Ran Hassin, một thành viên nhóm nghiên cứu, tuyên bố kết quả công trình của họ ám chỉ, các giả thuyết hiện nay về những quá trình vô thức trong bộ não người cần phải được chỉnh sửa lại.
“Những điều chỉnh này sẽ đưa chúng ta tiến gần hơn tới việc giải quyết một trong những bí ẩn khoa học lớn nhất của thế kỷ 21: Các chức năng của ý thức của con người là gì?”, ông Hassin nói thêm.
Trong phần đầu tiên của nghiên cứu, một mắt của người tình nguyện được cho xem một cụm từ hoặc câu tĩnh trong khi mắt còn lại vẫn được cho nhìn chớp nhoáng cụm từ hoặc câu đó nhưng với hình dạng, màu sắc khác nhau thay đổi liên tục. Các đối tượng nghiên cứu được yêu cầu bấm chuông ngay khi họ nhận ra các câu từ.
Kết quả là, việc nhận diện thường mất khoảng 1 giây, nhưng đối với những cụm từ mang nghĩa tiêu cực như “buôn bán người” và các câu vô nghĩa như “Tôi là cà phê”, quá trình này diễn ra nhanh hơn so với việc nhận diện các cụm từ mang nghĩa tích cực và câu chữ mạch lạc hơn như “Tôi là quần áo”.
Trong phần hai của nghiên cứu, nhóm tác giả kiểm tra xem bộ não vô ý thức xử lý các vấn đề toán học như thế nào. Cũng với phương pháp CFS, họ đã cho các đối tượng nghiên cứu tiếp xúc tiềm thức với những phép toán 3 con số như “9 – 3 – 4” trong 2 giây hoặc ngắn hơn. Sau đó, những người tình nguyện được cho xem một con số (không dùng CFS gây nhiễu) và yêu cầu đọc to nó. Kết quả là, họ đọc to con số là đáp án đúng của phép toán trước đó nhanh hơn bất kỳ con số nào khác. Chẳng hạn như, sau khi xem phép toán “9 – 3 – 4”, các sinh viên sẽ đọc to số “2” nhanh hơn những con số khác. Điều hé lộ, họ đã giải được phép toán trong tiềm thức và có câu trả lời sẵn sàng bật ra.
Các nghiên cứu khác gần đây từng chi ra rằng, con người có thể thực hiện một cách vô thức những nhiệm vụ vốn thường gắn với trạng thái có ý thức như đọc và hình thành trực giác. Nghiên cứu mới đã bổ sung thêm bằng chứng về khả năng thực hiện các hoạt động phức tạp, tuân theo quy tắc của bộ não ở trạng thái vô thức.
Nhà tâm lý học Ran Hassin, một thành viên nhóm nghiên cứu, tuyên bố kết quả công trình của họ ám chỉ, các giả thuyết hiện nay về những quá trình vô thức trong bộ não người cần phải được chỉnh sửa lại.
“Những điều chỉnh này sẽ đưa chúng ta tiến gần hơn tới việc giải quyết một trong những bí ẩn khoa học lớn nhất của thế kỷ 21: Các chức năng của ý thức của con người là gì?”, ông Hassin nói thêm.
Vũ Hà Văn: Nhà Toán học làm rạng danh non sông Việt Nam trên đất Mỹ
Trong Vũ Hà Văn, nhà toán học Việt Nam xuất sắc hàng đầu thế giới hiện nay, lúc nào cũng đau đáu tình yêu quê hương đất nước.
Cái tên Vũ Hà Văn đã thực sự nổi tiếng trên thế giới, được nhiều người biết đến sau sự kiện năm 2008, anh vinh dự được nhận Giải thưởng Polya - một giải thưởng lớn của Hội Toán học Ứng dụng và Công nghiệp Hoa Kỳ (SIAM).
Cùng với GS Ngô Bảo Châu, GS Vũ Hà Văn là một trong những người Việt tài năng nhất thế giới trong lĩnh vực toán học. Dù sống và làm việc ở nước ngoài nhiều năm, nhưng GS Vũ Hà Văn vẫn giữ quốc tịch Việt Nam.
Cùng với GS Ngô Bảo Châu, GS Vũ Hà Văn là một trong những người Việt tài năng nhất thế giới trong lĩnh vực toán học. Dù sống và làm việc ở nước ngoài nhiều năm, nhưng GS Vũ Hà Văn vẫn giữ quốc tịch Việt Nam.
Đối với anh, quê hương Việt Nam vẫn luôn là niềm tự hào để anh mang theo giới thiệu với bạn bè thế giới. Anh vẫn khẳng định: “Tôi vẫn không có ý định từ bỏ tấm hộ chiếu phổ thông bìa xanh của Việt Nam”.
Anh và vợ con vẫn về Việt Nam gần như thường xuyên. Mỗi lần về GS Văn đều kết hợp giảng dạy và nghiên cứu tại Viện Toán học và Trường đại học Khoa học tự nhiên (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).
Mỗi khi nhận được những lời mời giảng dạy tại Viện toán học hay các trường đại học trong nước, anh lại cố gắng sắp xếp công việc bận rộn để về quê hương.
GS Vũ Hà Văn giảng bài mà không cần một giáo án nào, tất cả kiến thức của anh rất chắc chắn, lần lượt tuôn ra từ bộ não sáng sủa không nhầm lẫn. Nghe anh giảng về toán giống như nghe cha anh, nhà thơ Vũ Quần Phương bình thơ vậy. Anh là người có năng khiếu sư phạm bẩm sinh.
Anh và vợ con vẫn về Việt Nam gần như thường xuyên. Mỗi lần về GS Văn đều kết hợp giảng dạy và nghiên cứu tại Viện Toán học và Trường đại học Khoa học tự nhiên (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).
Mỗi khi nhận được những lời mời giảng dạy tại Viện toán học hay các trường đại học trong nước, anh lại cố gắng sắp xếp công việc bận rộn để về quê hương.
GS Vũ Hà Văn giảng bài mà không cần một giáo án nào, tất cả kiến thức của anh rất chắc chắn, lần lượt tuôn ra từ bộ não sáng sủa không nhầm lẫn. Nghe anh giảng về toán giống như nghe cha anh, nhà thơ Vũ Quần Phương bình thơ vậy. Anh là người có năng khiếu sư phạm bẩm sinh.
Từ 18 đến 24/8/2012, tại một hội nghị toán học tổ chức ở Đức đã xướng tên GS Vũ Hà Văn nhận giải thưởng Fulkerson – một giải thưởng quốc tế lớn về toán học. Nhưng anh đã từ chối có mặt tại lễ trao giải bởi đang ở Huế dự phiên họp toàn thể hội nghị toán học phối hợp Việt - Pháp qua lời mời của của Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán của Việt Nam.
Thay vì tham dự một buổi lễ trang trọng trong khuôn khổ cuộc khai mạc của Đại hội toán tối ưu thế giới (tổ chức ba năm một lần) diễn ra tại nhà hát lớn Berlin (Đức) nơi mình sẽ được vinh danh, anh Văn vui vẻ tham gia buổi giao lưu với các em học sinh yêu toán tại Huế, trong đó có rất nhiều em bé “còn quàng khăn đỏ và mang vở dán nhãn gấu bông”.
“Đây là một hội nghị lớn của toán học Việt Nam và là dịp gặp gỡ nhiều đồng nghiệp, nhất là các bạn trẻ đang chuẩn bị dấn thân vào một con đường nhiều chông gai. Sự có mặt của tôi ở đây có lẽ có chút ý nghĩa thiết thực hơn," Vũ Hà Văn chia sẻ.
Tuổi thơ gian khó...
Nói đến Vũ Hà Văn, ít ai ngờ một giáo sư toán học hàng đầu thế giới cũng có một tuổi thơ đầy nhọc nhằn và vất vả.
Vũ Hà Văn sinh ngày 12/06/1970 tại Hà Nội trong những năm tháng ác liệt nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Giữa những năm tháng giặc Mỹ điên cuồng đánh phá miền Bắc, cuộc sống của anh ngay từ khi còn nhỏ đầy vất vả, thiếu thốn.
Thay vì tham dự một buổi lễ trang trọng trong khuôn khổ cuộc khai mạc của Đại hội toán tối ưu thế giới (tổ chức ba năm một lần) diễn ra tại nhà hát lớn Berlin (Đức) nơi mình sẽ được vinh danh, anh Văn vui vẻ tham gia buổi giao lưu với các em học sinh yêu toán tại Huế, trong đó có rất nhiều em bé “còn quàng khăn đỏ và mang vở dán nhãn gấu bông”.
“Đây là một hội nghị lớn của toán học Việt Nam và là dịp gặp gỡ nhiều đồng nghiệp, nhất là các bạn trẻ đang chuẩn bị dấn thân vào một con đường nhiều chông gai. Sự có mặt của tôi ở đây có lẽ có chút ý nghĩa thiết thực hơn," Vũ Hà Văn chia sẻ.
Tuổi thơ gian khó...
Nói đến Vũ Hà Văn, ít ai ngờ một giáo sư toán học hàng đầu thế giới cũng có một tuổi thơ đầy nhọc nhằn và vất vả.
Vũ Hà Văn sinh ngày 12/06/1970 tại Hà Nội trong những năm tháng ác liệt nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Giữa những năm tháng giặc Mỹ điên cuồng đánh phá miền Bắc, cuộc sống của anh ngay từ khi còn nhỏ đầy vất vả, thiếu thốn.
Bố của anh là nhà thơ nối tiếng Vũ Quần Phương, còn mẹ là bà Đào Thị Hường – dược sĩ.
Một chi tiết rất thú vị đó là người em trai của Vũ Hà Văn cũng không theo đuổi con đường thơ ca hay nghề dược sĩ như mẹ anh. Anh chia sẻ rằng mình cũng rất yêu những bài thơ do cha anh sáng tác, cũng hay đọc sách văn học, tiểu thuyết nhưng có lẽ vẫn không thể bằng tình yêu với toán học.
“Có điều, giữa làm toán và làm thơ có một điểm rất giống nhau, đó là tính logic cao và cũng đều cần một mẫu số chung là sự đam mê". - Vũ Hà Văn nhận xét.
Mẹ anh chính là người đã truyền ngọn lửa đam mê và khơi gợi niềm yêu thích môn Toán trong cậu bé Vũ Hà Văn ngày nào.
Một câu chuyện cảm động về mẹ anh Văn vẫn còn nhớ mãi khi trước hôm thi đại học Bách khoa Hà Nội, mẹ đã thức cùng anh để “truy bài” môn Hóa.
Thật tình cờ, rất nhiều câu trong đề thi lại rơi đúng vào phần đã được hai mẹ con ôn tập từ tối hôm trước. Vì vậy, không khó để Vũ Hà Văn có thể kiếm được điểm 10 tròn trĩnh môn Hóa. Nhờ công sức của mẹ, anh đã đỗ Á khoa của đại học Bách Khoa Hà Nội.
Sau này nhờ thi đỗ Á khoa của trường đại học Bách Khoa Hà Nội nên anh được tiêu chuẩn theo học ở nước ngoài và sang Hungary học. Tuy nhiên, vốn trưởng thành từ gia đình khó khăn nên cậu sinh viên Vũ Hà Văn luôn ý thức phải chắt chiu, tiết kiệm nơi xứ người.
Chia sẻ về quãng thời gian học tập tại Hungary của Vũ Hà Văn, nhà thơ Vũ Quần Phương không khỏi xúc động kể lại: “Tất cả các đồ dùng cần thiết cho cuộc sống như quần áo, sách vở, radio... Văn đều phải mua lại của những sinh viên tốt nghiệp về nước với giá chỉ bằng 20 - 30% so với đồ mới…
Những năm Văn học ở Hungary thiếu thốn lắm, học bổng chỉ đủ ăn thế mà sau 3 năm học đầu, Văn vẫn tiết kiệm được 100 USD mang về cho bố mẹ. Khi cầm đồng tiền ấy, tôi thực sự rất xúc động và thương con".
Một chi tiết rất thú vị đó là người em trai của Vũ Hà Văn cũng không theo đuổi con đường thơ ca hay nghề dược sĩ như mẹ anh. Anh chia sẻ rằng mình cũng rất yêu những bài thơ do cha anh sáng tác, cũng hay đọc sách văn học, tiểu thuyết nhưng có lẽ vẫn không thể bằng tình yêu với toán học.
“Có điều, giữa làm toán và làm thơ có một điểm rất giống nhau, đó là tính logic cao và cũng đều cần một mẫu số chung là sự đam mê". - Vũ Hà Văn nhận xét.
Mẹ anh chính là người đã truyền ngọn lửa đam mê và khơi gợi niềm yêu thích môn Toán trong cậu bé Vũ Hà Văn ngày nào.
Một câu chuyện cảm động về mẹ anh Văn vẫn còn nhớ mãi khi trước hôm thi đại học Bách khoa Hà Nội, mẹ đã thức cùng anh để “truy bài” môn Hóa.
Thật tình cờ, rất nhiều câu trong đề thi lại rơi đúng vào phần đã được hai mẹ con ôn tập từ tối hôm trước. Vì vậy, không khó để Vũ Hà Văn có thể kiếm được điểm 10 tròn trĩnh môn Hóa. Nhờ công sức của mẹ, anh đã đỗ Á khoa của đại học Bách Khoa Hà Nội.
Sau này nhờ thi đỗ Á khoa của trường đại học Bách Khoa Hà Nội nên anh được tiêu chuẩn theo học ở nước ngoài và sang Hungary học. Tuy nhiên, vốn trưởng thành từ gia đình khó khăn nên cậu sinh viên Vũ Hà Văn luôn ý thức phải chắt chiu, tiết kiệm nơi xứ người.
Chia sẻ về quãng thời gian học tập tại Hungary của Vũ Hà Văn, nhà thơ Vũ Quần Phương không khỏi xúc động kể lại: “Tất cả các đồ dùng cần thiết cho cuộc sống như quần áo, sách vở, radio... Văn đều phải mua lại của những sinh viên tốt nghiệp về nước với giá chỉ bằng 20 - 30% so với đồ mới…
Những năm Văn học ở Hungary thiếu thốn lắm, học bổng chỉ đủ ăn thế mà sau 3 năm học đầu, Văn vẫn tiết kiệm được 100 USD mang về cho bố mẹ. Khi cầm đồng tiền ấy, tôi thực sự rất xúc động và thương con".
Giáo sư Toán học lừng danh thế giới
Vũ Hà Văn tốt nghiệp cử nhân tại Đại học Eotvos, Budapest, Hungary năm 1994.
Anh tâm sự: "Thật ra tiểu sử khoa học của Văn có một điểm khác, so với phần lớn những người làm toán khác. Đó là Văn khi mới vào đại học không theo học ngành toán, mà là hoc điện tử tại Đại học Bách khoa Budapest...
Sau đó Văn mới chuyển sang trường Eotvos. Thành ra việc trở thành người làm toán cũng một phần là do say mê, một phần có số mệnh sắp đặt vậy, chứ con đường không được thẳng băng như một số người làm toán khác".
Vũ Hà Văn bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Yale, Mỹ, năm 1998. Sau thời gian làm hậu tiến sĩ tại Viện Nghiên cứu cấp cao (IAS) Princeton và tại Ban Nghiên cứu của Microsoft, từ năm 2001 đến 2005, anh làm việc tại Đại học California ở San Diego, với tư cách trợ lý giáo sư, phó giáo sư và giáo sư .
Từ mùa thu năm 2005, anh trở thành giáo sư Khoa Toán Đại học Rutgers, và hiện tại anh là GS. Đại Học Yale (nơi anh bảo vệ tiến sĩ, năm 1998). Anh còn là giáo sư thỉnh giảng của Đại học Paris từ tháng 6/2006.
Vũ Hà Văn cũng là thành viên Viện Nghiên cứu cấp cao Princeton trong những năm 1998-1999, 2005-2006, và 2007 (năm 2007 là người lãnh đạo nhóm dự án Số học tổ hợp tại viện này).
Vũ Hà Văn tốt nghiệp cử nhân tại Đại học Eotvos, Budapest, Hungary năm 1994.
Anh tâm sự: "Thật ra tiểu sử khoa học của Văn có một điểm khác, so với phần lớn những người làm toán khác. Đó là Văn khi mới vào đại học không theo học ngành toán, mà là hoc điện tử tại Đại học Bách khoa Budapest...
Sau đó Văn mới chuyển sang trường Eotvos. Thành ra việc trở thành người làm toán cũng một phần là do say mê, một phần có số mệnh sắp đặt vậy, chứ con đường không được thẳng băng như một số người làm toán khác".
Vũ Hà Văn bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Yale, Mỹ, năm 1998. Sau thời gian làm hậu tiến sĩ tại Viện Nghiên cứu cấp cao (IAS) Princeton và tại Ban Nghiên cứu của Microsoft, từ năm 2001 đến 2005, anh làm việc tại Đại học California ở San Diego, với tư cách trợ lý giáo sư, phó giáo sư và giáo sư .
Từ mùa thu năm 2005, anh trở thành giáo sư Khoa Toán Đại học Rutgers, và hiện tại anh là GS. Đại Học Yale (nơi anh bảo vệ tiến sĩ, năm 1998). Anh còn là giáo sư thỉnh giảng của Đại học Paris từ tháng 6/2006.
Vũ Hà Văn cũng là thành viên Viện Nghiên cứu cấp cao Princeton trong những năm 1998-1999, 2005-2006, và 2007 (năm 2007 là người lãnh đạo nhóm dự án Số học tổ hợp tại viện này).
Thứ Năm, 15 tháng 11, 2012
Học sinh duy nhất được 3 Thủ tướng tặng bằng khen
Trong hành trình đi tìm những “cậu bé Vàng” của toán học Việt Nam một thời, chúng tôi gặp lại một học sinh 3 lần được 3 Thủ tướng tặng bằng khen.
3 thủ tướng tặng bằng khen
Trong hành trình đi tìm những “cậu bé Vàng” của toán học Việt Nam một thời, chúng tôi đã rất bất ngờ khi được biết một học sinh Việt Nam đã có hai huy chương Olympic Toán quốc tế trong 2 năm liên tiếp và được 3 đời Thủ tướng tặng bằng khen.
Cậu học sinh đó là Phan Phương Đạt, hiện là Giám đốc Trung tâm đào tạo nguồn nhân lực FPT Software.
Trong hành trình đi tìm những “cậu bé Vàng” của toán học Việt Nam một thời, chúng tôi đã rất bất ngờ khi được biết một học sinh Việt Nam đã có hai huy chương Olympic Toán quốc tế trong 2 năm liên tiếp và được 3 đời Thủ tướng tặng bằng khen.
Cậu học sinh đó là Phan Phương Đạt, hiện là Giám đốc Trung tâm đào tạo nguồn nhân lực FPT Software.
Vẫn cái chất hiền khô của dân “tự nhiên”, anh cười xuề xòa khi nói về những thành tích của mình đã từng đạt được trong quá khứ.
Lý giải về những thành công đã từng đạt được, anh Đạt cảm thấy mình may mắn bởi được bố mẹ định hướng từ nhỏ và được học nhiều thầy cô giáo giỏi, những người bạn giỏi.
Gia đình không có truyền thống nghiên cứu khoa học nhưng bố mẹ anh đã dành rất nhiều thời gian và công sức để tạo điều kiện cho con cái học hành. "Hễ ở đâu có thầy giỏi là cha mẹ anh lại đến xin cho các con theo học" - Anh Đạt cười tươi.
Môi trường với nhiều thầy giỏi, bạn giỏi, chương trình học cũng nâng cao và hấp dẫn hơn, tạo sự cạnh tranh của trường THPT Chuyên Hà Nội - Amsterdam, đã tạo cho anh có nhiều thuận lợi để đạt được những thành tích khiến nhiều bạn trẻ ngưỡng mộ.
Anh vui vẻ nhớ lại: “Hồi đó chưa ý thức được mình có bí quyết gì để học đâu, cứ cắm đầu vào học thôi, bây giờ nhìn lại thì chắc là do 2 điểm: Thứ nhất, thầy nào giỏi thì đến xin học. Thứ hai, cứ có sách toán nào hay là đọc, bài toán nào hay là giải”.
Lúc đó, để kiếm sách Toán hay là điều cực khó, nên anh phải đi mượn chép thường xuyên. Nhưng hiện nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin các bạn trẻ dễ dàng có thể lên mạng, lên các diễn đàn để thu thập kiến thức.
Nhớ lại kỷ niệm là học sinh duy nhất được 3 Thủ tướng tặng bằng khen, anh tâm sự: “Thú thật mình cũng không để ý, cũng là tình cờ vì chẳng qua các năm mình thi lại trùng với mấy lần thay đổi Thủ tướng. Về sau báo chí họ khai thác sự kiện này thì mới chú ý”.
Anh Đạt kể, lần đầu tiên anh được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng tặng bằng khen. Sau đó, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Phạm Hùng (tên gọi khác của Thủ tướng chính phủ thời bấy giờ) lên thay nhưng không lâu sau đó ông qua đời và người kế nhiệm là Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười.
Chỉ trong 2 năm, với hai tấm huy chương đồng (1987) và tấm huy chương bạc (1988), anh trở thành học sinh Việt Nam duy nhất được 3 Thủ tướng tặng bằng khen.
Khi trò chuyện với chúng tôi, anh Phan Phương Đạt tủm tỉm cười khi nhớ lại cái thời học sinh gầy cả người vì học. Gầy đến nỗi, để chuẩn bị cho kỳ thi Olympic Toán học quốc tế 1987, các học sinh trong đoàn được cho tiền để thuê một bộ vest mặc trong khi đi tham dự tại đất nước Cu Ba xinh đẹp.
Tuy nhiên, do thể hình gầy gò nên anh thử đến mấy cái cũng không vừa. Sau đó, anh đành phải chọn những bộ quần áo được cho là “đẹp nhất” thường ngày để sang nước bạn.
Ngày đó, không chỉ riêng anh mà tất cả các học sinh trong đoàn đều lần đầu được ra nước ngoài nên trước ngày lên đường không tránh khỏi tâm trạng hồi hộp “mất mấy đêm”.
Nhớ lại tuổi thơ của mình, anh Đạt cho rằng thời kỳ đó những học sinh như anh “ngố lắm” và “Đúng là chỉ có học thật”. Tuy nhiên, anh cũng dành thời gian để đọc sách, đi chơi, và “tập tọe yêu đương”.
Một “quái nhân” ở FPT
Tâm sự về cái duyên đến FPT, anh Đạt cho biết “Ngày xưa lúc chọn ngành học đại học mình đã chọn tin học thay cho toán vì tự biết là không đủ khả năng nghiên cứu toán. Sau khi tốt nghiệp về nước, được bạn bè rủ vào FPT vì FPT là công ty tin học (sau này mới phổ biến từ công nghệ thông tin)”.
Tuy nhiên công việc hiện tại của anh lại dần chuyển sang đào tạo và nhân sự. Anh nhận thấy những kỹ năng, tư duy toán học có thể áp dụng rất tốt cho công việc này, ví như mình cũng có thể đặt những bài toán thực tế và tìm lời giải cho nó.
Niềm vui của anh khi quyết định theo đuổi công việc hiện tại đó là công ty phát triển rất tốt, có nhiều việc thú vị để thử, để làm, và được hưởng thành quả từ thành công của công ty.
Anh Đạt cũng là người từng trải qua rất nhiều vị trí quan trọng khác nhau như Trưởng ban nhân sự Fsoft, Trưởng ban nhân sự FPT rồi Phó tổng Giám đốc Fsoft và hiện tại anh là Giám đốc Trung tâm đào tạo nguồn nhân lực FPT Software. Ở vị trí nào anh cũng phát huy được hiệu quả trong công việc.
Một lãnh đạo của FPT từng thừa nhận nếu không có Đạt, mục tiêu xuất khẩu phần mềm của FSoft với hàng chục triệu USD khó có thể đạt được.
Lý giải về những thành công đã từng đạt được, anh Đạt cảm thấy mình may mắn bởi được bố mẹ định hướng từ nhỏ và được học nhiều thầy cô giáo giỏi, những người bạn giỏi.
Gia đình không có truyền thống nghiên cứu khoa học nhưng bố mẹ anh đã dành rất nhiều thời gian và công sức để tạo điều kiện cho con cái học hành. "Hễ ở đâu có thầy giỏi là cha mẹ anh lại đến xin cho các con theo học" - Anh Đạt cười tươi.
Môi trường với nhiều thầy giỏi, bạn giỏi, chương trình học cũng nâng cao và hấp dẫn hơn, tạo sự cạnh tranh của trường THPT Chuyên Hà Nội - Amsterdam, đã tạo cho anh có nhiều thuận lợi để đạt được những thành tích khiến nhiều bạn trẻ ngưỡng mộ.
Anh vui vẻ nhớ lại: “Hồi đó chưa ý thức được mình có bí quyết gì để học đâu, cứ cắm đầu vào học thôi, bây giờ nhìn lại thì chắc là do 2 điểm: Thứ nhất, thầy nào giỏi thì đến xin học. Thứ hai, cứ có sách toán nào hay là đọc, bài toán nào hay là giải”.
Lúc đó, để kiếm sách Toán hay là điều cực khó, nên anh phải đi mượn chép thường xuyên. Nhưng hiện nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin các bạn trẻ dễ dàng có thể lên mạng, lên các diễn đàn để thu thập kiến thức.
Nhớ lại kỷ niệm là học sinh duy nhất được 3 Thủ tướng tặng bằng khen, anh tâm sự: “Thú thật mình cũng không để ý, cũng là tình cờ vì chẳng qua các năm mình thi lại trùng với mấy lần thay đổi Thủ tướng. Về sau báo chí họ khai thác sự kiện này thì mới chú ý”.
Anh Đạt kể, lần đầu tiên anh được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng tặng bằng khen. Sau đó, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Phạm Hùng (tên gọi khác của Thủ tướng chính phủ thời bấy giờ) lên thay nhưng không lâu sau đó ông qua đời và người kế nhiệm là Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười.
Chỉ trong 2 năm, với hai tấm huy chương đồng (1987) và tấm huy chương bạc (1988), anh trở thành học sinh Việt Nam duy nhất được 3 Thủ tướng tặng bằng khen.
Khi trò chuyện với chúng tôi, anh Phan Phương Đạt tủm tỉm cười khi nhớ lại cái thời học sinh gầy cả người vì học. Gầy đến nỗi, để chuẩn bị cho kỳ thi Olympic Toán học quốc tế 1987, các học sinh trong đoàn được cho tiền để thuê một bộ vest mặc trong khi đi tham dự tại đất nước Cu Ba xinh đẹp.
Tuy nhiên, do thể hình gầy gò nên anh thử đến mấy cái cũng không vừa. Sau đó, anh đành phải chọn những bộ quần áo được cho là “đẹp nhất” thường ngày để sang nước bạn.
Ngày đó, không chỉ riêng anh mà tất cả các học sinh trong đoàn đều lần đầu được ra nước ngoài nên trước ngày lên đường không tránh khỏi tâm trạng hồi hộp “mất mấy đêm”.
Nhớ lại tuổi thơ của mình, anh Đạt cho rằng thời kỳ đó những học sinh như anh “ngố lắm” và “Đúng là chỉ có học thật”. Tuy nhiên, anh cũng dành thời gian để đọc sách, đi chơi, và “tập tọe yêu đương”.
Một “quái nhân” ở FPT
Tâm sự về cái duyên đến FPT, anh Đạt cho biết “Ngày xưa lúc chọn ngành học đại học mình đã chọn tin học thay cho toán vì tự biết là không đủ khả năng nghiên cứu toán. Sau khi tốt nghiệp về nước, được bạn bè rủ vào FPT vì FPT là công ty tin học (sau này mới phổ biến từ công nghệ thông tin)”.
Tuy nhiên công việc hiện tại của anh lại dần chuyển sang đào tạo và nhân sự. Anh nhận thấy những kỹ năng, tư duy toán học có thể áp dụng rất tốt cho công việc này, ví như mình cũng có thể đặt những bài toán thực tế và tìm lời giải cho nó.
Niềm vui của anh khi quyết định theo đuổi công việc hiện tại đó là công ty phát triển rất tốt, có nhiều việc thú vị để thử, để làm, và được hưởng thành quả từ thành công của công ty.
Anh Đạt cũng là người từng trải qua rất nhiều vị trí quan trọng khác nhau như Trưởng ban nhân sự Fsoft, Trưởng ban nhân sự FPT rồi Phó tổng Giám đốc Fsoft và hiện tại anh là Giám đốc Trung tâm đào tạo nguồn nhân lực FPT Software. Ở vị trí nào anh cũng phát huy được hiệu quả trong công việc.
Một lãnh đạo của FPT từng thừa nhận nếu không có Đạt, mục tiêu xuất khẩu phần mềm của FSoft với hàng chục triệu USD khó có thể đạt được.
Theo anh, quản trị nhân sự là ngành tương đối mới và đang thay đổi nhanh, xuất hiện nhiều bài toán hay, chắc sẽ còn phát triển mạnh.
Là người từng tham gia thảo luận tại nhiều diễn đàn về vấn đề sử dụng nhân tài, anh Đạt cho rằng nhân tài hiện nay càng ngày càng có cơ hội thể hiện và ở nhiều môi trường khác nhau như công chức, nghiên cứu, giảng dạy, kinh doanh…Người tài chắc chắn sẽ tìm được công việc phù hợp để phát huy năng lực của mình.
Nhiều ý kiến cho rằng, hiện nay các học sinh đạt giải trong các kỳ thi Olympic Toán học đều chỉ nhận được 1 số tiền nhỏ cùng bằng khen của Bộ GD- ĐT, nhưng sau đó không biết các em học sinh này đi đâu về đâu.
Tuy nhiên, anh Đạt lại có cách nhìn chia sẻ: “Bộ GD –ĐT làm đến đó là quá tốt rồi, nếu các bạn vào đại học mà giỏi thì sẽ được hưởng các quyền lợi liên quan. Có chăng có thể làm tốt hơn việc kết nối các thế hệ học sinh giỏi với nhau để giúp nhau, hay kết hợp, khuyến khích các tổ chức xã hội khác cùng góp sức hỗ trợ các bạn ấy”.
Anh cho biết FPT cũng có 1 câu lạc bộ tên là FYT (FPT Young Talents), nơi các bạn học sinh, sinh viên giỏi được tạo điều kiện để tiếp xúc với những người thành đạt, với nhau và với các đàn anh đi trước. Sẽ có rất nhiều cơ hội xuất hiện để các bạn nắm bắt. Sau 13 năm hoạt động, đã có 300 thành viên sinh hoạt ở FPT Young Talents, trong đó hơn 100 là các học sinh đạt giải Quốc tế, các bạn đều đánh giá cao về mô hình FPT Young Talents.
Là người từng tham gia thảo luận tại nhiều diễn đàn về vấn đề sử dụng nhân tài, anh Đạt cho rằng nhân tài hiện nay càng ngày càng có cơ hội thể hiện và ở nhiều môi trường khác nhau như công chức, nghiên cứu, giảng dạy, kinh doanh…Người tài chắc chắn sẽ tìm được công việc phù hợp để phát huy năng lực của mình.
Nhiều ý kiến cho rằng, hiện nay các học sinh đạt giải trong các kỳ thi Olympic Toán học đều chỉ nhận được 1 số tiền nhỏ cùng bằng khen của Bộ GD- ĐT, nhưng sau đó không biết các em học sinh này đi đâu về đâu.
Tuy nhiên, anh Đạt lại có cách nhìn chia sẻ: “Bộ GD –ĐT làm đến đó là quá tốt rồi, nếu các bạn vào đại học mà giỏi thì sẽ được hưởng các quyền lợi liên quan. Có chăng có thể làm tốt hơn việc kết nối các thế hệ học sinh giỏi với nhau để giúp nhau, hay kết hợp, khuyến khích các tổ chức xã hội khác cùng góp sức hỗ trợ các bạn ấy”.
Anh cho biết FPT cũng có 1 câu lạc bộ tên là FYT (FPT Young Talents), nơi các bạn học sinh, sinh viên giỏi được tạo điều kiện để tiếp xúc với những người thành đạt, với nhau và với các đàn anh đi trước. Sẽ có rất nhiều cơ hội xuất hiện để các bạn nắm bắt. Sau 13 năm hoạt động, đã có 300 thành viên sinh hoạt ở FPT Young Talents, trong đó hơn 100 là các học sinh đạt giải Quốc tế, các bạn đều đánh giá cao về mô hình FPT Young Talents.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





